CUỘC TRANH LUẬN VỀ THI PHÁP
Cuộc tranh luận này gồm 7 bài:
Bài 1: THI PHÁP
Bài viết của Phạm Đức Nhì
Bài 2: BÌNH THƠ KHÔNG BÀN THI PHÁP
Bài viết của Phạm Đức Nhì
Bài 3: PHẢN BIỆN BÀI “BÌNH THƠ KHÔNG BÀN THI PHÁP” CỦA PHẠM ĐỨC NHÌ
Bài viết của Châu Thạch
Bài 4: TRẢ LỜI CHÂU THẠCH VỀ “BÌNH THƠ KHÔNG BÀN THI PHÁP”
Bài viết của Phạm Đức Nhì
Bài 5: VÀI Ý KIẾN VỀ BÌNH THƠ KHÔNG THI PHÁP CỦA PHẠM ĐỨC NHÌ
Bài viết của Lê Thiên Minh Khoa
Bài 6: MỘT CÁCH HIỂU TỨ THƠ KỲ QUẶC
Bài viết của Phạm Đức Nhì
Bài 7: TRAO ĐỔI VỚI ÔNG LÊ THIÊN MINH KHOA VỀ THI PHÁP
Bài viết của Phạm Đức Nhì
Bài 1:
THI PHÁP
Định Nghĩa
Thi Pháp: Phương pháp, quy tắc làm thơ.
https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-thi%20ph%C3%A1p
Tôi chọn định nghĩa này vì nó lấy thơ làm tâm điểm. Thi pháp ở đây hiểu theo nghĩa hẹp - “thi” là thi ca chứ không phải văn học (như cách hiểu thi pháp của Nga và một số nhà lý luận văn học Việt Nam theo trường phái này)
Bàn thi pháp là bàn đến hình thức của bài thơ nhưng là những “thành phần của hình thức” liên quan, gắn bó với sự hay. dở của nội dung mà giới chuyên môn gọi là “phương tiện thẩm mỹ”.
Những phương tiện thẩm mỹ gồm: Ngôn từ, hình tượng, câu cú, biện pháp tu từ, thể thơ, vần, nhịp điệu, kết luận, bố cục (thế trận) …
Tôi mượn định nghĩa đơn giản ở trên rồi thêm vào vài điểm của việc “bàn thi pháp” để có một định nghĩa chi tiết hơn, dễ hiểu hơn sau đây:
Thi pháp (poetics) là phương pháp, quy tắc làm thơ - sử dụng các phương tiện thẩm mỹ nối kết các con chữ để chuyển tải thông điệp và cảm xúc của thi sĩ đến độc giả.
Đây chỉ là sự tổng hợp những thứ có sẵn của người khác – không có gì là của riêng tôi cả.
Các Phương Tiện Thẩm Mỹ
1/ Ngôn từ, hình tượng, câu cú
Đây là phương tiện thẩm mỹ đầu tiên.
Ngôn từ, hình tượng có nét đẹp quý phái, cao sang, hoặc bình dị, chân quê (như thơ Nguyễn Bính), đặt đúng chỗ (đắc địa), câu gọn chắc, đúng cú pháp cho thấy thi sĩ đã có căn bản của tay nghề thi pháp. Dĩ nhiên, bài thơ được nhìn với đôi mắt thiện cảm ngay từ “lúc ban sơ”.
Ngôn từ hình tượng thô ráp, gượng ép, câu rườm rà “bất thành cú” sẽ tạo ấn tượng không tốt cho độc giả ngay lúc đọc mấy câu đầu tiên.
Đây là phần căn bản nhất của thi pháp giống như kỹ thuật cá nhân của cầu thủ trong bóng đá.
2/ Biện pháp tu từ
Nói bóng gió, ẩn dụ, hoán dụ, so sánh…
Có kín kẽ (về kỹ thuật) không? Có tương hợp với nội dung hay không? Biện pháp tu từ nếu khéo léo, thành công sẽ tăng nét đẹp, nét duyên dáng của bài thơ lên nhiều.
3/ Thể thơ
Truyền thống hay hiện đại?
Nhất khí liền mạch hay phân mảnh đứt đoạn?
Các mảnh tâm trạng của tứ thơ chảy thành dòng dòng nối tiếp nhau hay chỉ là những “vũng thơ” tách biệt?
Chọn thể thơ cũng ảnh hưởng đến khả năng “tiến xa” của bài thơ. Nó là điểm cơ bản của Cái Nền Kỹ Thuật Của Bài Thơ Đúng Hướng. (1)
4/ Vần và âm điệu
Vần thiếu ngọt: Câu thơ khô cứng, dòng âm điệu nếu có cũng trúc trắc, không thông.
Vần vừa ngọt: Câu thơ mềm mại, nếu tứ thơ chảy thành dòng sẽ có dòng âm điệu thông thoáng, trơn tru.
Vần quá ngọt: Phát sinh “hội chứng nhàm chán vần” - cảm giác chán ngán vì vần quá nhiều.
Nếu thể thơ phân mảnh đứt đoạn: Âm điệu sẽ phát sinh một hay nhiều đoạn nhạc ngắn – âm vang chưa kịp thấm tiếng nhạc đã ngừng.
Nếu thể thơ nhất khi liền mạch, các mảnh tâm trạng được nối với nhau bằng cước vận liên tiếp, và nếu vần vừa ngọt, dòng âm điệu sẽ là dòng nhạc du dương chảy suốt cả bài thơ.
Lúc đó cảm xúc sẽ bám theo để ba dòng nhập một (tứ thơ, âm điệu, cảm xúc) – sóng sau dồn sóng trước - cùng thẳng hướng “điểm đến của tứ thơ”. Tùy mức độ cao hứng của thi sĩ bài thơ sẽ có Hồn ở tầng bậc khác nhau. (2)
5/ Nhịp điệu
Nhịp điệu đều đều tẻ nhạt nếu số chữ trong câu, cố định, không đổi. Nếu bài thơ dài sẽ tạo cảm giác chán ngán cho người đọc, giảm giá trị của bài thơ.
Nhịp điệu yển chuyển, sinh động nếu số chữ trong câu thay đổi. Độ uyển chuyển, sinh động càng cao khi biên độ thay đổi của số chữ trong câu càng lớn (biên độ = số chữ của câu dài nhất - số chữ của câu ngắn nhất). Độ uyển chuyển sinh động càng cao đọc càng thoải mái, hứng thú (ít bị ngán), giá trị bài thơ được nâng cao hơn.
Hơn nữa, nhịp điệu uyển chuyển, sinh động còn có khả năng vô hiệu hóa hoặc ít ra cũng giảm thiểu “hội chứng nhàm chán vần” nếu có.
6/ Đoạn kết của bài thơ
Giống như tựa đề, đoạn kết cũng tóm gọn những điều cốt yếu của tứ thơ nhưng với vóc dáng mới - thực hơn, sinh động hơn, bề thế hơn - nên cần nhiều “đất” hơn. Ít thì vài câu, nhiều thì có khi một, hai đoạn.
Có hai cách thường được dùng để kết thúc bài thơ:
a/ Tóm gọn những điều cốt yếu của tứ thơ.
b/ Lập lại, xác nhận lại điểm chính của tứ thơ một cách mạnh mẽ và hùng hồn hơn.
Làm thơ mà không biết kết luận giống như đội bóng chỉ vờn bóng giữa sân mà không có chân sút dứt điểm, không biết phối hợp để đưa bóng vào lưới đối phương.
Nói khác đi, đoạn kết hay hoặc dở sẽ ảnh hưởng khá lớn đến giá trị tổng thể của bài thơ. Cho nên đoạn kết sẽ được người đọc (và người bình) để ý rất kỹ.
7/ Bố cục, thế trận
Phân chia và dàn trải tứ thơ hợp lý, hợp tình dễ thu hút sự chú ý của người đọc kỹ tính, có trình độ thưởng thức thơ cao hơn, sẽ nâng giá trị của bài thơ thêm một mức đáng kể.
Cũng giống như bóng đá - đấu pháp toàn đội hợp lý, sẽ giúp đội bóng mạnh hơn, thi đấu hiệu quả hơn.
Bình Thơ Không Thi Pháp
Đây là lối bình thơ chỉ tiếp cận Tứ Thơ qua Ngôn Từ, Hình Tượng, Biện Pháp Tu Từ mà không chú ý đến các phương tiện thẩm mỹ khác của thi pháp.
Bình thơ kiểu này rất phiến diện, bỏ sót nhiều phương tiện thẩm mỹ nên không cho độc giả thấy được hết những điểm hay, điểm dở của bài thơ. Đặc biệt, trong các phương tiện thẩm mỹ bị bỏ sót có tất cả những phương tiện thẩm mỹ tạo nên tính thơ của bài thơ. Nhà bình thơ đã đối xử với bài thơ như một bài văn.
Bình thơ như vậy đã giết chết thơ.
PHẠM ĐỨC NHÌ
lythuyetthoabc.blogspot.com
Chú Thích:
1/ (Cái Nền Kỹ Thuật Của Bài Thơ Đúng Hướng, Phạm Đức Nhì)
https://lythuyetthoabc.blogspot.com/2023/05/cai-nen-ky-thuat-cua-bai-tho-ung-huong.html
2/(Các Cung Bậc Của Hồn Thơ, Phạm Đức Nhì)
https://lythuyetthoabc.blogspot.com/2023/05/cac-cung-bac-cua-hon-tho.html
Bài 2:
BÌNH THƠ KHÔNG BÀN THI PHÁP
Thi Pháp Là Gì?
Sau đây là vài định nghĩa Thi Pháp đáng chú ý:
1/
Phương pháp, quy tắc làm thơ.
https://www.rung.vn/dict/vn_vn/Thi_ph%C3%A1p
2/
The art of writing poetry.
The study of linguistic techniques in poetry or literature.
tạm dịch:
Nghê thuật, phương cách sáng tác thơ.
Ngành nghiên cứu về kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ hoặc văn chương.
https://en.oxforddictionaries.com/definition/poetics
3/
Ngành phê bình văn học chuyên về bản chất và luật thơ.
http://www.dictionary.com/browse/poetics
4/
Poetics is the theory of literary forms and literary discourse. It may refer specifically to the theory of poetry, although some speakers use the term so broadly as to denote the concept of "theory" itself.
Thi Pháp là lý thuyết về các hình thức văn chương và nghị luận văn học. Nó có thể đề cập cụ thể đến lý thuyết thơ, mặc dù một số người dùng thuật ngữ này với nghĩa rộng để diễn đạt chính ý niệm về lý thuyết.
https://en.wikipedia.org/wiki/Poetics
Thi pháp nếu hiểu nghĩa hẹp (“thi” là thi ca chứ không phải văn học) là phương pháp, quy tắc làm thơ; cũng có thể hiểu là luật thơ.
Bàn đến thi pháp là bàn đến hình thức của bài thơ - cách sắp xếp con chữ, sử dụng vần điệu và ảnh hưởng của nó đối với giá trị nghệ thuật của bài thơ.
Đối với thơ, theo tôi, thi pháp có thể định nghĩa như sau:
5/
Thi pháp (poetics) là phương pháp, quy tắc làm thơ - sử dụng vần, nhịp điệu (và các phương tiện thẩm mỹ khác của thơ) nối kết các con chữ thành một thế trận để chuyển tải thông điệp và cảm xúc của thi sĩ đến độc giả.
(Tôi chỉ “tổng hợp” ý của vài định nghĩa khác - định nghĩa này không phải do tôi nghĩ ra)
Các phương tiện thẩm mỹ gồm: Ngôn từ, hình tượng, câu cú, biện pháp tu từ, thể thơ, vần, nhịp điệu, kết luận, bố cục (thế trận) …
Ngoài ra, trong ebook Toàn Cảnh Thi Pháp Học của GS/TS Trần Đình Sử có hai định nghĩa thi pháp học đáng chú ý:
1/ V. Girmunski: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (tức là văn học) như là một nghệ thuật.”
Định nghĩa này quá rộng nhắm vào nhiệm vụ của thi pháp học. (1)
2/ Viacheslav Ivanov: “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ được sử dụng trong đó. (1)
Định nghĩa của Viacheslav Ivanov tuy có cụ thể hơn một tý nhưng cũng nói đến “tác phẩm văn học” nghĩa là vùng phủ sóng cũng vượt quá phạm vi của bài viết này.
Ảnh Hưởng Của Thi Pháp Đối Với Giá Trị Nghệ Thuật Của Bài Thơ
1/ Số Chữ Trong Câu:
Ảnh hưởng đến nhịp điệu của bài thơ.
Số chữ trong câu cố định sẽ dẫn đến nhịp điệu đều đặn, nhàm chán.
Số chữ trong câu thay đổi sẽ tạo nhịp điệu khác lạ, giảm bớt cảm giác nhàm chán khi đọc thơ, nhất là bài thơ dài. Biên độ thay đổi càng rộng nhịp điệu càng khác lạ, đọc thơ càng có cảm giác thích thú, khoan khoái. Thay đổi số chữ trong câu còn có thể hóa giải hoặc giảm thiểu “hội chứng nhàm chán vần”, nếu có.
Hơn nữa, việc thay đổi số chữ trong câu chứng tỏ tác giả đã phần nào thoát khỏi những ràng buộc của thể thơ, biểu lộ phong thái ung dung, thoải mái - rất cần thiết để nhen nhúm hồn thơ.
2/ Số Câu Trong Bài:
Thoải mái, tùy tiện nhưng đừng quá ngắn.
Xin trích lời một anh bạn trong buổi nhậu (đã thay đổi chút ít cho phù hợp với khung cảnh bài viết):
“Bài thơ ngắn quá (4 câu hoặc ít hơn) không đủ để tác giả bày tỏ tâm trạng của mình, không đủ để cảm xúc lớn mạnh tạo thành cao trào. Nếu thành công, nó như một nụ hôn phớt trên má, tạo ra chút xao động trong lòng người đọc nhạy cảm. Nếu thất bại, nó cho cảm giác bực mình như làm tình với anh chàng ‘sậu tinh’, chưa đi đến chợ đã hết tiền, mệt người mà chẳng nên cơm cháo gì”.
2/ Vần:
Với thi sĩ, vần giúp nối kết những ý tưởng, sự kiện, những mảnh tâm tình thành một xâu chuỗi khiến bài thơ liền mạch, nhất khí. Trong bài thơ có vần (ngoại trừ thể thơ mới trường thiên từng đoạn 4 câu) tứ thơ và cảm xúc chảy thành dòng, lớn mạnh nhanh chóng nhờ sóng sau dồn sóng trước. Khi thi sĩ đang cao hứng, “lên cơn”, dòng cảm xúc liền mạch, trôi nhanh đó giúp tứ thơ tuôn trào, không có “thời gian chết” để lý trí xuất hiện, tạo cơ hội cho hồn thơ hình thành.
Với độc giả, vần là thuốc dẫn, là thứ “dầu bôi trơn” giúp thông điệp của bài thơ theo dòng cảm xúc trôi nhanh vào hồn. Nhờ thứ “dầu bôi trơn” ấy độc giả “cảm” được tâm tình của thi sĩ một cách dễ dàng hơn, (có thể) không phải trải qua tiến trình suy nghĩ, tránh được (hoặc giảm thiểu) sự chen vào can thiệp của lý trí để cuối cùng có thể bắt gặp hồn thơ (nếu có). (2)
Nhưng vần là con dao hai lưỡi:
a/ Quá ngọt: Sẽ có hội chứng nhàm chán vần, đọc nghe rất ngán - nhất là khi tứ thơ không thẳng hướng tới đích mà cứ cà kê dê ngỗng chạy lòng vòng.
b/ Quá nhạt hoặc không vần: Trúc trắc, khó đọc, dòng chảy của tứ thơ không trơn, những khoảng ngắn ngừng nghỉ sẽ là cơ hội để lý trí xuất hiện.
3/ Dòng Chảy Của Tứ Thơ
a/ Đứt đoạn, phân mảnh: Tứ thơ phân tán, mỗi đọan là một ý nhỏ, cảm xúc chưa kịp tích tụ đã tan, cực khó có hồn thơ
b/ Nhất khí liền mạch: Tứ thơ chảy thành dòng, ý này nối kết với ý kia cho đến hết bài. Nếu thi sĩ cao hứng và thế trận bài thơ hợp lý sẽ có cơ hội có cảm xúc tầng 3, có cơ hội tạo được cao trào, có cơ hội có hồn thơ.
c/ Tốc độ của dòng chảy càng nhanh, hơi thơ càng mạnh, cảm xúc càng dạt dào.
4/ Cảm Xúc:
Mức độ cảm xúc có được là kết quả của sự phối hợp các phương tiện thẩm mỹ của bài thơ mà giới phê bình gọi là thi pháp.
a/ Cảm xúc tầng 1: Cảm giác khoan khoái, sung sướng khi gặp được một chữ “đắt”, một cụm từ sang, đẹp, một biện pháp tu từ độc đáo hoặc một câu thơ hay. (Kỹ thuật cá nhân của cầu thủ)
b/ Cảm xúc tầng 2: Cảm giác sung sướng khi thấy sự kết nối các câu, các ý, các đoạn thành một thế trận liền lạc, hợp lý, hiệu quả để đưa tứ thơ đến “bến đỗ”. (Đấu pháp toàn đội)
c/ Cảm xúc tầng 3: Cảm giác ngây ngất khi “bắt” được cái hơi nóng cảm xúc, không phải từ các con chữ của bài thơ mà từ đâu đó giữa những hàng kẻ. Cái hơi nóng cảm xúc đó được “thổi” vào bài thơ do tâm thái cao hứng, nổi điên, lạc thần trí của tác giả. Đây là loại cảm xúc cho độc giả cái cảm giác sảng khoái nhất, “đã” nhất.
Nếu cảm xúc tầng 3 mạnh đến mức chảy thành dòng, sóng sau dồn sóng trước lên đến đỉnh điểm, bài thơ có cao trào, hồn thơ xuất hiện. (Trận đấu có hồn) Lúc đó “cái tôi văn hóa” của tác giả đã trốn mất để “cái tôi đích thực” lộ diện, lời thơ là những tiếng lòng chân thật từ một Con Người (viết hoa). Bài thơ đã đạt được phần thưởng cao quý nhất - bước vào “Bến Bờ Thi Ca”.
(Lúc đầu khi viết về đề tài này chỉ trường hợp lý trí hoàn toàn biệt tăm, mất dạng, cảm xúc dâng trào cao ngất, tôi mới dùng 2 chữ Hồn Thơ. Còn những trường hợp như (a/, b/, c/, d/) ở đoạn sau tôi dùng nhóm chữ “cảm xúc tầng 3” kèm một tĩnh từ cao thấp khác nhau. Sau này tôi thay đổi để độc giả “dễ bắt” hơn).
Tùy theo “lượng” lý trí còn sót lại trong tâm hồn thi sĩ lúc tứ thơ lên đến cao trào ta có những loại hồn thơ saư đây:
a/ Hồn thơ rất nhẹ, hồn thơ phơn phớt nhẹ: Lý trí vẫn còn sót lại.
b/ Hồn thơ man mác, nhẹ nhàng: Còn sót lại nhưng ít hơn.
c/ Hồn thơ khá mạnh: Còn sót lại it hơn nữa
d/ Hồn thơ lai láng: Lý trí biệt tăm, biến mất hoàn toàn.
Khi cảm xúc hoàn toàn nắm quyền đạo diễn, leo lái đoạn thơ (hoặc bài thơ), lý trí - thủ phạm của mọi thứ gian dối, xảo trá trong suy nghĩ, lời nói, cách ứng xử của thi sĩ – đã tạm thời biến mất. Lời thơ sẽ là Tiếng Lòng Chân Thật.
Đó là mục đích tối hậu, cao quý nhất của công việc làm thơ. Qua đoạn thơ, bài thơ thi sĩ đã cho phép người đọc đối thoại với mình bằng Tiếng Người (viết hoa) của “cái tôi đích thực” (chứ không phải “cái tôi văn hóa”).
Khuyết Điểm Về Mặt Thi Pháp Của “Thềm Xưa Em Đợi Người Về”
THỀM XƯA EM ĐỢI NGƯỜI VỀ
Em đợi người bên Thềm Xưa trầm lắng
nhặt bâng quơ hạt nắng ngủ trên bàn
ly phin đá nhẩn nha từng giọt đắng
nhặt hoài mong lạc mười ngón tay đan.
Em khắc khoải đợi một dòng tin nhắn
thèm giật mình khi nghe tiếng chuông reo
chiếc điện thoại cũng tảng lờ im ắng
ném niềm vui như chiếc lá bay vèo.
Mắt ngân ngấn “Người ơi” - em khẽ gọi
đợi tiếng người trầm ấm phía bên kia
mà: “… rất tiếc, số này không kết nối”
ngỡ trời tình ai thổi tắt trăng khuya.
Buồn vây ráp đêm dài thêm sợi tóc
tựa vào đâu ấm áp một bờ vai?
em cố dặn: thôi đừng mau mắt khóc
dẫu muộn phiền có thể chẳng nguôi khuây.
Người gieo lại nửa hồn nghe ngơ ngẩn
nửa trên tay em bồng nắng về rừng
như thạch thảo bên tường mưa ướt cánh
nghe con chim góa bụa hót rưng rưng.
Em khờ khạo xới lên miền cổ tích
như mối đùn trăm nỗi nhớ về nhau
khi yêu dấu môi hôn chưa nhàm nhạt
ai cam tâm hờ hững tự khi nào?
HÀ NHỮ UYÊN
(Bài này Châu Thạch đã viết lời bình với tựa “Cảm Nhận ‘Thềm Xưa Em Đợi Người Về’ – Thơ Hà Nhữ Uyên” nhưng anh đã chỉ bình tán ý tứ mà không bàn thi pháp. Độc giả có thể đọc bài bình của Châu Thạch theo link sau đây:
http://www.bongtram.com/2016/03/cam-nhan-them-xua-em-oi-nguoi-ve-tho-ha.html
1/ Nhịp Điệu:
Mỗi câu 8 chữ, mỗi đoạn 4 câu, đọc lên nhịp điệu đều đặn tẻ nhạt. Tác giả tự trói buộc mình trong quy luật của thơ mới nên tâm thế, phong thái không được tự do.
2/ Vần:
Vần gieo cả 1/3 lẫn 2/4 kỹ lưỡng (6 đoạn 12 cặp vần, không bỏ sót cặp nào), có nhiều cặp gieo chính vận nên hội chứng nhàm chán vần rất nặng, đọc 2 đoạn đã thấy giọng “ầu ơ”. Thêm vào đó, tác giả lại còn chơi cả yêu vận (vần lưng):
Chữ “nắng” (câu 2 đoạn 1) vần với “lắng” (câu 1 đoạn 1)
Chữ “nối” (câu 3 đoạn 3) vần với “thổi” (câu 4 đoạn 3)
Chữ “tóc” (câu 1 đoạn 4) vần với “áp” (câu 2 đoạn 4)
Chữ “ngẩn” (câu 1 đoạn 5) vần với “nắng” (câu 2 đoạn 5)
Và điệp vận (vần “ắng”) không cần thiết: Câu 1, câu 3 đoạn 1 và câu 1, câu 3 đoạn 2
Nhìn cách gieo vần của bài thơ mà thấy “thương” cho thái độ phục tùng của tác giả đối với quy luật gieo vần. Một lần nữa lại biểu hiện phong thái e dè lệ thuộc.
3/ Dòng Chảy Của Tứ Thơ:
Bài thơ gồm 6 đoạn, mỗi đoạn 4 câu diễn tả một ý riêng biệt; từ đoạn trước sang đoạn sau không bắt vần nên tứ thơ đứt đoạn, phân tán, không có dòng chảy.
4/ Cảm Xúc:
Cảm xúc tạo được ở đoạn nào nằm tại đoạn đó, không chảy thành dòng để có sự tiếp nối “sóng sau dồn sóng trước” tạo cao trào, hình thành hồn thơ. Cảm xúc phần lớn ở tầng 1 (câu, chữ hay), rất ít ở tầng 2 (thế trận), hoàn toàn không có cảm xúc ở tầng 3 (cao hứng, nổi điên). Với vóc dáng này TXEĐNV chắc chắn không thể có hồn thơ.
Bình thơ mà không bàn đến thi pháp nên Châu Thạch đã bỏ qua nhiều khuyết điểm và đã nâng giá trị của bài thơ lên một cách bất công. Tệ hại hơn, anh đã ngợi khen quá lố một bài thơ có những điểm yếu cơ bản, thổi vào hồn tác giả một niềm tự hào thiếu căn cứ để nảy sinh tâm lý tự mãn.
Đôi Lời Với Tác Giả Bài Thơ “Thềm Xưa Em Đợi Người Về”
Tôi hoàn toàn không quen biết anh Hà Nhữ Uyên và bài thơ Thềm Xưa Em Đợi Người Về tôi chỉ mới “gặp” lần đầu khi viết bài này. Bài thơ của anh những nét đẹp về ngôn ngữ, hình tượng, ý tứ thì nhà phê bình Châu Thạch đã phân tích đầy đủ, có phần ưu ái. Tôi chỉ bàn đến những cái “sót” của anh Châu Thạch khi anh bình thơ mà phớt lờ thi pháp – “cách sắp xếp con chữ, sử dụng vần điệu và ảnh hưởng của nó đối với giá trị nghệ thật của bài thơ”.
Mỗi nhà phê bình đều có “ý đồ” riêng trong bài viết của mình. Trước tiên, bài thơ của anh Hà Nhữ Uyên rất tình cờ lọt vào tầm ngắm của tôi. Đọc kỹ, thấy nó là một thí dụ minh họa rất hợp với mục tiêu của bài viết. Tôi biết bị một cặp mắt nhìn soi mói vào khuyết điểm bài thơ của mình tác giả nào cũng có cảm giác khó chịu, nhưng xin anh Hà Nhữ Uyên hiểu và thông cảm cho. Tôi chọn bài của anh vì tiện đường đi tìm cái đẹp của Thi Ca chứ không vì ác cảm cá nhân.
Thuở còn ở Trung Học, khi được hỏi “Làm thơ nên chọn thể thơ nào?”, thầy giáo dậy Việt Văn có lần nói với tôi
“Cái đó tùy tạng, tùy sở thích của mỗi người; trên trang thơ của mình thi sĩ được toàn quyền tự do chọn lựa.”
Sau nhiều năm tìm vui với thơ, tôi lại được các bạn trẻ hỏi cái câu hỏi tôi đã hỏi thầy giáo tôi ngày xưa. Và vì dòng đời thay đổi, cách nhìn nhận thi ca cũng đổi thay; câu trả lời của tôi cũng khác câu trả lời của ông thầy mà tôi hết lòng yêu mến.
“Hãy chọn thể thơ thông thoáng, không bị trói buộc bởi luật lệ khắt khe, không phân mảnh đứt đoạn, để tứ thơ và cảm xúc của mình có thể chảy thành dòng, sóng sau dồn sóng trước, có cơ hội tạo cao trào để hồn thơ xuất hiện.”
Rất mong anh Hà Nhữ Uyên coi câu trả lời ấy như một đề nghị chân tình.
Ưu Điểm Về Mặt Thi Pháp Của “Quê Nghèo”
QUÊ NGHÈO
Quê tôi nghèo lắm
Vẫn lác đác nhà tranh
Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt
Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát
Cha cả đời lam lũ
Mẹ một đời chắt chiu
Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ
Tuổi thơ tôi đói ngủ
Thương cánh cò bấu bíu lời ru.
Quê tôi nghèo lắm
Phiên chợ còn èo ợt nghèo hơn
Dăm ba nải chuối
Vài mớ rau tươi
Mẹt sắn, mẹt ngô
Lời mời chào cao hơn mời cỗ
Lèo tèo dăm người bán
lẻ tẻ mấy người mua
ế bán
chán mua
phiên chợ quê xác xơ già cỗi.
.
Quê tôi nghèo lắm
lũ trẻ gầy như con cá mắm
lũ trai mặt mũi mốc meo
gặm nhấm nỗi đau nghèo khó
nơm nớp âu lo đời như chiếu bạc
thương con cò con vạc
mỏi cổ chồn chân trên đồng đất của mình.
.
Quê tôi nghèo lắm
nước mắt rơi từ thời chị Dậu
tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ
âm ỉ bủa quanh
bám đeo đặc quánh
Chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp
sừng sững bê tông cốt thép
ngạo nghễ tượng đài
ngạo nghễ trần ai
chiếc cổng làng thành tai hại
giam hãm đời người
tù túng giấc mơ.
.
Quê tôi nghèo
nghèo cả giấc mơ...
*.
Hưng Yên, chiều 29 tháng 12 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Bài này nhà phê bình Nguyễn Bàng đã viết lời bình với tựa Quê Nghèo – Nghèo Đến Xót Xa Cõi Lòng. Còn ông Bùi Đồng cũng bình bài thơ nhưng chọn cái tựa khác hơn một tý: Quê Nghèo – Xót Xa Những Tiếng Lòng. Giống như Châu Thạch, hai ông cũng chỉ bình tán ý tứ mà không bàn thi pháp. Độc giả có thể đọc cả hai bài bình thơ theo hai cái links sau đây:
http://vunhonb.blogspot.com/2017/12/que-ngheo.html#more
http://dangxuanxuyen.blogspot.com/2017/09/que-ngheo-xot-xa-nhung-tieng-long-tac.html
1/ Nhịp Điệu:
Số câu trong bài không bị bó buộc, viết hết ý thì thôi; số chữ trong câu tùy tiện, không theo một quy luật nào nên nhịp điệu khác lạ, tránh được cảm giác đơn điệu, nhàm chán. Tốc độ dòng chảy của tứ thơ khá nhanh, thay đổi theo cảm xúc, tạo mối giao cảm trực tiếp với độc giả ngay trên từng con chữ. Thêm vào đó, cách phân bổ các con chữ, câu, đoạn trong bài thơ biểu lộ một tâm thế, một phong thái tự do, thoải mái.
2/ Vần:
Tôi có cảm tưởng tác giả không chủ ý gieo vần nhưng các con chữ tuôn ra trong lúc tình thương mến quê dâng cao cứ tự động kết nối với nhau thành từng mảng trong đó đã có vần một cách tự nhiên. Riêng đoạn 2 và phần đầu đoạn 4 không có vần nhưng đọc lên - nhờ nhịp điệu - vẫn trơn tru thoải mái như ăn chè vừa đủ độ ngọt.
Quê tôi nghèo lắm
phiên chợ còn èo ợt nghèo hơn
dăm ba nải chuối
vài mớ rau tươi
mẹt sắn, mẹt ngô
í ới mời chào cao hơn mời cỗ
Lèo tèo dăm người bán
lẻ tẻ mấy người mua
ế bán
chán mua
phiên chợ quê xác xơ già cỗi.
Và:
Quê tôi nghèo lắm
nước mắt rơi từ thời chị Dậu
tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ
âm ỉ bủa quanh
bám đeo đặc quánh
Không biết do tác giả có tài hay do may mắn. Tôi nghĩ có lẽ cả hai.
3/ Dòng Chảy Của Tứ Thơ:
Hình ảnh, sự kiện nối tiếp nhau chảy thành dòng trên con kênh mà lòng kênh là câu thơ chủ đạo “Quê tôi nghèo lắm”. Chính nhờ tứ thơ nhất khí liền mạch chảy thành dòng nên đã có sóng sau dồn sóng trước để tạo cơ hội cho cảm xúc tầng 3 xuất hiện.
4/ Cảm Xúc:
Cảm xúc tầng 1 khá mạnh toát ra từ câu chữ; cảm xúc tầng 2 cũng đáng kể do thế trận tuy chưa hoàn toàn hợp lý, mạch lạc nhưng cũng không đến nỗi phân tán, rời rạc. Thêm vào đó, nhờ nhịp điệu nhanh nên đã có xuất hiện cảm xúc tầng 3 - thứ cảm xúc cao cấp nhất trong thơ – nhưng chưa đủ mạnh để tạo hồn thơ. Lý do: tác giả không tạo được cao trào, và do đó, đoạn kết thiếu ấn tượng.
Đôi Lời Với Tác Giả Bài Thơ “Quê Nghèo”
Tôi đã để ý đến “cách làm thơ” của Đặng Xuân Xuyến từ khá lâu mặc dù đã có lần “đụng chạm” với anh rất nặng. Về mặt thi pháp, anh (và vài nhà thơ khác) đã đi trước rất nhiều người trong cái cộng đồng yêu thơ quy tụ quanh trang web của anh và một số trang web lân cận. Muốn đem một bài thơ nào đó của anh ra mổ xẻ để “mách nước” cho anh bứt phá chạy mau đến “bến bờ thi ca” nhưng hình như “không có duyên”; tôi thường đi sau thiên hạ một bước.
Hôm nay nhân dịp viết loạt bài về hồn thơ tôi để ý đến bài Quê Nghèo của anh. Thật tình, đây là bài thơ còn khá xa mới đến mức hoàn hảo. Có đến vài chỗ sai phạm, hoặc nếu không sai phạm thì cũng chưa hoàn chỉnh, có thể o bế, trau chuốt để bài thơ hay hơn.
Nhưng rõ ràng với cách sắp xếp con chữ và sử dụng vần điệu khá nhuyễn anh đã tạo cho bài thơ của mình cái vóc dáng của một lãng tử phiêu du, không bị trói buộc bởi “gia quy, lệ làng, phép nước”; tứ thơ đã chảy thành dòng, và cảm xúc có đôi chỗ mức gia tăng đã nhiều hơn cấp số cộng.
Mặc dầu bài thơ đã có (ít nhất) hai người bình nhưng cả hai (Nguyễn Bàng và Bùi Đồng) đều không bàn thi pháp nên kỹ thuật thơ của anh, cái “tài thơ” của anh bị lãng quên.
Theo tôi, riêng về phần kỹ thuật thơ, anh đã có đủ điều kiện để viết bài thơ để đời của mình. So với Ngọc Mai - người tôi nói đến ở bài 2 – anh có nhiều ưu điểm hơn, đặc biệt là thể thơ và cách nhìn phóng khoáng về cuộc sống. Nói theo ngôn ngữ bóng đá anh cần để ý thêm về đấu pháp toàn đội (thế trận), cách ghi bàn thắng thật đẹp (đoạn kết) và gây hưng phấn cho cầu thủ của đội bóng (trạng thái cao hứng của thi sĩ).
Nếu anh tiếp tục “thai nghén” một tứ thơ đắc ý nào đó rồi gắng chờ đến lúc “óc ách’, khó chịu, không “xì” ra không được, lúc ấy mà “mở bầu tâm sự” thì với thi pháp của anh cơ hội tặng cho đời một đứa con “sáng giá” sẽ rất cao.
Thơ Đến Từ Đâu?
Khi làm thơ thi sĩ sẽ ở 1 trong 3 tâm thế (trạng thái của tâm) sau đây:
1/ Muốn phân tích phải trái, nói lý lẽ với độc giả (Reason With Them)
Với tâm thế ấy thi sĩ sẽ rất dễ “viết thơ thành vè” như khá nhiều những “bài thơ” của Thái Bá Tân. Ý tưởng mạch lạc, có vần điệu nhưng chỉ là sản phẩm của lý trí, hoàn toàn vắng bóng cảm xúc.
2/ Tâm sự, chia sẻ cảm xúc với độc giả (Share feelings with them)
Đại đa số thơ chúng ta thường đọc thuộc loại này. Thơ có cảm xúc nhưng cũng có sự kiểm soát của lý trí.
3/ Xả, trút cái khối yêu thương, thù hận, uẩn ức … chất chứa trong lòng. (Get it off your chest)
Lúc ấy thi sĩ đã nổi cơn điên, lạc thần trí; ngài đã vứt bỏ chiếc áo “cái tôi văn hóa” để trở về với “cái tôi đích thực” của mình. Trước mắt ngài sẽ chẳng có độc giả; ngài sẽ chẳng viết cho ai cả; ngài chỉ muốn nói ra, viết ra cho nhẹ lòng, nhẹ bụng. Nếu kỹ thuật thơ nhuần nhuyễn đến một mức nào đó, bài thơ viết ra sẽ rất nhiều cơ hội có hồn.
Bình Thơ Không Bàn Thi Pháp - Đầu Mối Của Bất Công.
Bình thơ không bàn thi pháp chắc chắn sẽ dẫn đến bất công. Người bình chỉ chú ý đến ý tứ, còn kỹ thuật thơ thì “ngoảnh mặt làm ngơ”. Tác giả bài thơ đã có “tay nghề” cao hay vẫn còn lẹt đẹt ở phía sau cũng đều được đánh giá giống nhau, cá mè một lứa.
Người may mắn có được những bước chân khai phá đi đúng hướng bến bờ thi ca thì vì mang tâm trạng nửa tin, nửa ngờ, không có người biết chuyện chia sẻ, thông cảm, khuyến khích nên vẫn cứ ngập ngừng, vừa bước vừa run; nếu bất ngờ đụng phải một trở ngại nhỏ cũng dễ dàng bỏ cuộc. Người vẫn còn lẹt đẹt - nhưng lại không biết mình ở phía sau - vẫn cứ tiếp tục đi, lắm lúc còn ưỡn ngực tự hào dù thực sự đang quanh đi quẩn lại, bì bõm trong vũng sình lầy lội.
Với thơ, cảm xúc gần như là tất cả, thông điệp chỉ là thứ yếu. Dĩ nhiên, tứ thơ hay cũng góp phần nâng giá trị của bài thơ nhưng chính cảm xúc mới có thể đưa bài thơ lên “đài danh vọng”, mới giúp bài thơ chiếm một vị trí trang trọng trong lòng độc giả, mới tạo nên sự cách biệt giữa một tuyệt tác thi ca với những bài thơ làng nhàng.
Muốn “đo” khối lượng cảm xúc của một bài thơ nhà phê bình trước hết phải “cảm đoán” xem thi sĩ viết bài thơ với tâm thế nào. Nếu ngài “trút bầu tâm sự” lên trang giấy thì bài thơ dễ có nhiều cảm xúc và có cơ hội đạt danh hiệu cao quý: “Bài Thơ Có Hồn”. Đến đây nhà phê bình phải dùng chiêu thi pháp để tìm kết quả. Vần, nhịp điệu và các phương tiên thẩm mỹ khác sẽ được đưa lên bàn mổ để xem có nối kết các con chữ thành một thế trận hoàn hảo và có tạo được cao trào không?
Bởi vậy nếu không bàn thi pháp thì sẽ rất khó nhận biết cảm xúc tầng 3 - thứ cảm xúc cao cấp đến từ trạng thái cao hứng của thi sĩ – và đỉnh điểm của nó là hồn thơ. Không làm được điều đó, theo tôi, bài bình thơ thất bại.
Kết Luận
Thưa các nhà bình thơ Châu Thạch, Nguyễn Bàng và Bùi Đồng,
Thưa tất cả những nhà phê bình thuộc trường phái Bình Thơ Không Bàn Thi Pháp,
Với lối bình thơ ấy quý vị đã đối xử với bài thơ như một đoạn văn không hơn, không kém. Tâm của quý vị có thể chính trực nhưng lời bình của quý vị lại thiên vị, bất công, thơ hay thơ dở đánh lộn sòng.
Bao nhiêu những tố chất để làm nên “tính thơ” quý vị đều phớt lờ. Quý vị đã cầm dao đâm chết bài thơ trước khi viết lời bình. Những phân tích, bàn tán hoa mỹ của quý vị chỉ là những cánh hoa phủ lên một “cái xác không hồn”, một bài thơ không có “tính thơ”.
Xin những người yêu thơ hãy lên tiếng để cứu thơ. Nếu không, một ngày nào đó thơ – cái thứ thơ mà chúng ta trân trọng yêu quý - sẽ không còn nữa.
Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com
1/ https://trandinhsu.wordpress.com/2013/02/16/tran-dinh-su-toan-canh-thi-phap-hoc-phan-1/
2/ Một Cách Nhìn Khác Về Vai Trò Của Vần Trong Thơ, Phạm Đức Nhì
https://lythuyetthoabc.blogspot.com/2023/05/mot-cach-nhin-khac-ve-vai-tro-cua-van.html
Bài 3
PHẢN BIỆN BÀI "BÌNH THƠ KHÔNG BÀN
THI PHÁP" CỦA PHẠM ĐỨC NHÌ
Vừa qua nhà thơ Phạm Đức
Nhì có viết một bài “Bình thơ không bàn thi pháp” trong đó ông kết tội Châu Thạch,
Nguyễn Bàng và Bùi Đồng là đã bình thơ không bàn thi pháp, theo lời ông là làm
cho “thơ hay thơ dở đánh lộn sòng”.
Nhiều thi hữu điện thoại với
tôi, nói rằng anh Nhì muốn quậy để cho mình nổi danh thôi. Họ yêu cầu tôi cứ
nín lặng vì ai đúng ai trật thì đã có công luận phê phán. Việc anh Nhì quậy cho
nổi danh thì tôi không tin lắm vì anh đã có danh nhiều rồi, đem cái danh ấy mà
tranh chấp với tôi, thứ con dế dưới cỏ, thì chỉ tự hạ mình xuống chớ nổi con khỉ
gì.
Tôi đã đồng ý nín câm
luôn. Thế nhưng nghĩ đi nghĩ lại anh Nhì muốn chém tôi mà không chịu chém thẳng,
lại đem một thi sĩ thật hiền hòa ở Tây Ninh ra chém mới thật là oan cho anh ấy.
Thi sĩ Hà Nhữ Uyên, một người tôi chưa từng quen biết, có thơ hay được thi hữu
miền Nam mến mộ, lại bị anh Nhì đặt vào cái cẩu đầu trảm chỉ vì cái tội là tôi
đồng cảm với thơ anh ấy và viết lời bình cho bài thơ “Thềm Xưa Em Đợi Người về”.
Bởi vậy tôi xin có đôi lời phản biện để không phải bênh tôi mà biện hộ cho Hà
Nhữ Uyên, người đã vì tôi mà lên đoạn đầu đài.
Trước hết nhà thơ Phạm Đức
Nhì nói loanh quanh về các định nghĩa thi pháp là gì của người xưa rồi cuối
cùng anh tự định nghĩa sau đây:
“Thi pháp (poetics) là
phương pháp, quy tắc làm thơ - sử dụng vần, nhịp điệu (và các phương tiện thẩm
mỹ khác của thơ) nối kết các con chữ thành một thế trận để chuyển tải thông điệp
và cảm xúc của thi sĩ đến độc giả.”
Tôi cũng đồng ý hoàn toàn với anh Nhì định nghĩa nầy nhưng tôi nghĩ theo định nghĩa nầy thì thằng cha nào bình thơ mà “không bàn thi pháp” được nhỉ? Người nào đã viết bình thơ mà có thể không bàn về việc tác giả “Sử dụng vần, nhịp điệu, nối kết các con chữ thành một thế trận để chuyển tải thông điệp và cảm xúc của thi sĩ đến độc giả”.
Anh Phạm Đức Nhì nói Châu Thạch, Nguyễn Bàng, Bùi Đồng “chỉ bình tán ý tứ mà không bàn thi pháp”. Vậy cái ý tứ đó có phải là “sử dụng vần, nhịp điệu, nối kết các con chữ thành một thế trận để chuyển tải thông điệp, cảm xúc” không nhỉ? Chẳng có nhà thơ nào mà không xử dụng những cái ấy để đưa ý tứ của mình vào. Cho nên một nhà bình thơ “bình tán ý tứ” của bài, chính là nhận xét cái tài “sử dụng vần, nhịp điêu, con chữ” của họ hay đến đâu hoặc dở đến đâu.
Anh Nhì nói chúng tôi
“bình tán ý tứ không bàn thi pháp” là chính anh đã “đánh lộn sòng con chữ” chớ
không phải chúng tôi. Một bài thơ mà không có ý, tứ và không biết sử sụng ý tứ
đó cho hài hoà, độc đáo thì là bỏ. Khi chúng tôi khen một bài thơ hay là chúng
tôi khen tác giả có tài thi pháp, có ý tứ hay của thơ và có cả ý tứ trong sáng
tác để kết cấu bài thơ gây cảm xúc cho người.
Bây giờ xin bước qua biện
hộ cho bài thơ của Hà Nhữ Uyên.
Bài thơ như sau:
THỀM XƯA EM ĐỢI NGƯỜI VỀ
Em đợi người bên Thềm Xưa
trầm lắng
nhặt bâng quơ hạt nắng ngủ
trên bàn
ly phin đá nhẩn nha từng
giọt đắng
nhặt hoài mong lạc mười
ngón tay đan.
.
Em khắc khoải đợi một dòng
tin nhắn
thèm giật mình khi nghe tiếng
chuông reo
chiếc điện thoại cũng tảng
lờ im ắng
ném niềm vui như chiếc lá
bay vèo.
.
Mắt ngân ngấn “Người ơi” -
em khẽ gọi
đợi tiếng người trầm ấm
phía bên kia
mà: “… rất tiếc, số này
không kết nối”
ngỡ trời tình ai thổi tắt
trăng khuya.
.
Buồn vây ráp đêm dài thêm
sợi tóc
tựa vào đâu ấm áp một bờ
vai?
em cố dặn: thôi đừng mau mắt
khóc
dẫu muộn phiền có thể chẳng
nguôi khuây.
.
Người gieo lại nửa hồn
nghe ngơ ngẩn
nửa trên tay em bồng nắng
về rừng
như thạch thảo bên tường
mưa ướt cánh
nghe con chim góa bụa hót
rưng rưng.
.
Em khờ khạo xới lên miền cổ
tích
như mối đùn trăm nỗi nhớ về
nhau
khi yêu dấu môi hôn chưa
nhàm nhạt
ai cam tâm hờ hững tự khi
nào?
HÀ NHỮ UYÊN
Phạm Đức Nhì chê:
1/ Nhịp điệu: Mỗi câu 8 chữ,
mỗi đoạn 4 câu, đọc lên nhịp điệu đều đặn tẻ nhạt. Tác giả tự trói buộc mình
trong quy luật của thơ mới nên tâm thế, phong thái không được tự do.
Châu Thạch biện hộ:
Xin hãy đọc đoạn thơ trong
bài Ave Mari của Hàn Mạc Tử:
Như song lộc triều nguyên
ơn phước cả
Dâng cao dâng thần nhạc
sánh hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cõi
Thiên Đường
Huyền diệu bến thành muôn
linh trọng thể
Toàn bộ bài của Hàn Mạc Tử
đều mỗi đoạn 4 câu và mỗi câu 8 chữ. Bài thơ nầy đã trở thành bất hủ.
Phạm Đức Nhì chê:
2/ Vần: Vần gieo cả 1/3 lẫn
2/4 kỹ lưỡng (6 đoạn 12 cặp vần, không bỏ sót cặp nào), có nhiều cặp gieo chính
vận nên hội chứng nhàm chán vần rất nặng, đọc 2 đoạn đã thấy giọng “ầu ơ”. Thêm
vào đó, tác giả lại còn chơi cả yêu vận (vần lưng)
Châu Thạch biện hộ:
Mời đọc bài thơ “Trên Đường
Về” trong tập thơ Điêu Tàn của Chế Lan Viên có 7 đoạn và 14 cặp vần gieo 1/3 lẫn
2/4 không bỏ sót cặp nào.
Xin đơn cử một đoạn thôi:
Đây những tháp gầy mòn vì
mong đợi
Những đền xưa đổ nát giữa
thời gian
Những sông vắng lê mình
trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ
rên than
Bài thơ nầy cũng cũng đã
trở nên biểu tượng của thơ.
Phạm Đức Nhì chê:
3/ Dòng chảy của tứ thơ:
Bài thơ gồm 6 đoạn, mỗi đoạn 4 câu diễn tả một ý riêng biệt; từ đoạn trước sang
đoạn sau không bắt vần nên tứ thơ đứt đoạn, phân tán, không có dòng chảy.
Châu Thạch biện hộ:
Đọc bài thơ Tràng Giang của
Huy Cận:
Sóng gợn tràng giang buồn
điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước
song song.
Thuyền về nước lại, sầu
trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy
dòng.
.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu
hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ
chiều
Nắng xuống, trời lên sâu
chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến
cô liêu.
.
Bèo giạt về đâu, hàng nối
hàng;
Mênh mông không một chuyến
đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm
thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi
vàng.
.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ:
bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con
nước,
Không khói hoàng hôn cũng
nhớ nhà.
Đọc bài thơ Tràng Giang của
Huy cận ta thấy có 4 đoạn, mỗi đoạn diễn tả không những một ý riêng biệt mà còn
một cảnh riêng biệt. nhưng tất cả cũng chỉ mục đích là miêu tả Trường Giang. Từ
khổ thơ trước qua khổ thơ sau cũng không hề bắt vận. Ở đây bài thơ “Thềm xưa em
đợi người về” mỗi đoạn tỏ bày một tâm tư của em, và tất cả cũng để nói lên nỗi
lòng của người ngồi bên “Thềm xưa em đợi anh về”. Thiết tưởng liên kết của các
ý thơ còn sít sao và trôi chảy hơn Tràng Giang nữa.
Phạm Đức Nhì chê:
4/ Cảm xúc: Cảm xúc tạo được ở đoạn nào nằm tại đoạn đó, không chảy thành dòng để có sự tiếp nối “sóng sau dồn sóng trước” tạo cao trào, hình thành hồn thơ. Cảm xúc phần lớn ở tầng 1 (câu, chữ hay), rất ít ở tầng 2 (thế trận), hoàn toàn không có cảm xúc ở tầng 3 (cao hứng, nổi điên). Với vóc dáng này Thềm xưa em đợi người về chắc chắn không thể có hồn thơ.
Châu Thạch biện hộ:
Khổ 1: Em đợi chàng với sự
nóng lòng hiện lên trên cử chỉ
Khổ 2: Em khắc khoải mong
chờ và giật mình mỗi khi tưởng có tin anh
Khổ3: Măt ngấn lệ, em gọi
tên anh những đến trăng khuya cũng tắt.
Khổ 4: Em cố nhủ lòng thôi
đừng phiền đừng khóc nhưng muộn phiền vẫn chẳng nguôi khuây.
Khổ 5: Anh gieo vào lòng
em nỗi sầu như hoa Thạch Thảo bên tường mưa ướt, như con chim góa bụa hót rưng
rưng.
Khổ 6: Em khờ khạo nên để
mối đùn trăm nối nhớ. Ngược lại anh thì cam tâm hờ hững tự bao giờ.
Bài thơ có một nối kết rõ
ràng từ khổ 1 cho đến khổ 6. Cảm xúc “sóng sau dồn sóng trước’ và mỗi lúc một
cao độ hơn. Cuối cùng tác giả dùng hình ảnh tổ mối đùn lên để nói về nỗi nhớ thật
là sống động đến độ tuyệt vời.
Sở dĩ người viết dùng thơ của các nhà thơ đã đi vào văn học sử để
so với thơ của Hà Nhữ Uyên chỉ để chứng minh tác giả đã khôn khéo xử dụng thi
pháp như những tài danh đã xử dụng. Không phải thi pháp ấy làm cho bài thơ dỡ
như Phạm Đức Nhì đã kết luận. Ngoài ra
người viết tất nhiên, không dám đem thơ Hà Nhữ Uyên để so về mặt cao thấp với
các thi tài đã vang danh một thời.
Tóm lại theo tôi, đây là một bài thơ
hay. Mà dẫu tôi có bình sai, anh Phạm Đức nhì thấy không hay thì cũng chẳng nên
đem búa ra để đập bài thơ của một tác giả ra như thế, mà lại phê phán quá bất
công với nhà thơ ấy. Tôi thấy anh Nhì còn lấy những tiêu chuẩn thơ của chính
anh tự đặt như một vị thầy để chê thơ anh Phạm Đức Tùng không phải là thơ nữa.
Tôi nhớ trước đây trong
“Câu Chuyện Văn Chương” nhà thơ Lê Mai Lĩnh có nói như sau về việc Phạm Đức Nhì
đã bình “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm:
“Thế nhưng vừa qua, người anh em tôi, nhà thơ
Phạm Đức Nhì đã chọn một cách rất “không bình thường” để phân tích, mổ xẻ TƯỢNG
ĐÀI THÂM TÂM TỐNG BIỆT HÀNH:
Ông đã đem BÚA TẠ, KỀM
KINGSIZE, ĐỤC KINGSIZE, XÀ BENG KINGSIZE , THUỐC NỔ QUEEN, BAO TAY PRINCESS,,,,
Ông TRỤC, KÉO, LÔI PHO TƯỢNG
ĐÀI THÂM TÂM TỐNG BIỆT HÀNH ra khỏi TRÁI TIM NHỮNG NGƯỜI YÊU của THÂM TÂM TỐNG
BIỆT HÀNH”
Sau đó nhà thơ Lê Mai Lĩnh
nói thêm như sau:
“Thưa anh nhà thơ PHẠM ĐỨC NHÌ:
1/Anh nói: TÔI DÀNH SỰ
PHÁN XÉT SAU CÙNG CHO ĐỘC GIẢ.
Vậy tôi đề nghị anh NÊN
NÓI LỜI XIN LỖI VỚI ANH CHÂU THẠCH. Bài của nhà phê bình CHÂU THẠCH rất HÀN
LÂM, NGƯỜI LỚN.
2/ Mặc dù anh đã HÀN GẮN
NHỮNG VẾT ĐỤC ĐẼO lên PHO TƯỢNG TỐNG BIỆT HÀNH, những sự MẤT MÁT VẪN CÒN, NIỀM
ĐAU CŨNG CÒN.
Vậy anh nên viết bài tạ lỗi
với độc giả của T.Vấn & Bạn Hữu, rằng anh đã chạm vào tình cảm YÊU THƠ của
họ dành cho THẦN TƯỢNG THÂM TÂM.”
Hôm nay Châu Thạch tôi cũng xin dùng câu đó để nói lại với anh Phạm Đức Nhì nhưng không phải biểu anh xin lỗi tôi hay xin lỗi anh Nguyễn Bàng, anh Bùi Đồng mà chỉ khuyên anh nên xin lỗi nhà thơ Hà Nhữ Uyên vậy.
Châu Thạch
Bài 4
TRẢ LỜI CHÂU THẠCH VỀ
"BÌNH THƠ KHÔNG BÀN THI PHÁP"
1/ Châu Thạch Nhập Đề Và
“Đá Giò Lái”
"Vừa qua nhà thơ Phạm
Đức Nhì có viết một bài “Bình Thơ Không Bàn Thi Pháp” trong đó ông kết tội Châu
Thạch, Nguyễn Bàng và Bùi Đồng là đã bình thơ không bàn thi pháp, theo lời ông
là làm cho “thơ hay thơ dở đánh lộn sòng”.
Nhiều thi hữu điện thoại với
tôi, nói rằng anh Nhì muốn huậy để cho mình nổi danh thôi. Họ yêu cầu tôi cứ
nín lặng vì ai đúng ai trật thì đã có công luận phê phán. Việc anh Nhì huậy cho
nổi danh thì tôi không tin lắm vì anh đã có danh nhiều rồi, đem cái danh ấy mà
tranh chấp với tôi, thứ con dế dưới cỏ, thì chỉ tự hạ mình xuống chớ nổi con khỉ
gì.
Tôi đã đồng ý nín câm
luôn. Thế nhưng nghĩ đi nghĩ lại anh Nhì muốn chém tôi mà không chịu chém thẳng,
lại đem một thi sĩ thật hiền hòa ở Tây Ninh ra chém mới thật là oan cho anh ấy.
Thi sĩ Hà Nhữ Uyên, một người tôi chưa từng quen biết, có thơ hay được thi hữu
miền Nam mến mộ, lại bị anh Nhì đặt vào cái cẩu đầu trảm chỉ vì cái tội là tôi
đồng cảm với thơ anh ấy và viết lời bình cho bài thơ “Thềm Xưa Em Đợi Người về”.
Bởi vậy tôi xin có đôi lời phản biện để không phải bênh tôi mà biện hộ cho Hà
Nhữ Uyên, người đã vì tôi mà lên đoạn đầu đài."
Phạm Đức Nhì Trả Lời:
Anh Châu thạch không đi thẳng
vào đề tài tranh luận mà vòng qua, vòng lại rồi “đá giò lái” người đối luận với
mình. Nói thật, tôi không chấp cái trò trẻ con ấy. Riêng chuyện anh Hà Nhữ Uyên
anh cũng nói đến ở đoạn kết, đến đó tôi sẽ trả lời.
2/ Châu Thạch Phản Biện:
"Anh Phạm Đức Nhì nói Châu Thạch, Nguyễn Bàng, Bùi Đồng “chỉ bình tán ý tứ mà không bàn thi pháp”. Vậy cái ý tứ đó có phải là “xử dụng vần, nhịp điệu, nối kết các con chữ thành một thế trận để chuyển tải thông điệp, cảm xúc” không nhỉ? Chẳng có nhà thơ nào mà không xử dụng những cái ấy để đưa ý tứ của mình vào. Cho nên một nhà bình thơ “bình tán ý tứ” của bài, chính là nhận xét cái tài “xử dụng vần, nhịp điêu, con chữ” của họ hay đến đâu hoặc dỡ đến đâu.
Anh Nhì nói chúng tôi “bình tán ý tứ
không bàn thi pháp” là chính anh đã “đánh lộn sòng con chữ” chớ không phải
chúng tôi. Một bài thơ mà không có ý, tứ và không biết xử sụng ý tứ đó cho hài
hoà, độc đáo thì là bỏ. Khi chúng tôi khen một bài thơ hay là chúng tôi khen
tác giả có tài thi pháp, có ý tứ hay của thơ và có cả ý tứ trong sáng tác để kết
cấu bài thơ gây cảm xúc cho người."
Phạm Đức Nhì Trả Lời:
Anh Châu Thạch ơi! Rõ ràng
là anh không bàn thi pháp. Thì cứ nói thẳng ra là mình thấy nó vô bổ, vô ích
(hoặc cũng có thể anh không biết) nên không nói tới. Hà cớ gì lại nói quanh,
nói co rồi nhận xằng là mình bàn ý tứ tức cũng là bàn thi pháp? Anh nói vậy anh
không hiểu gì về “bàn thi pháp” rồi.
Bàn thi pháp là giải thích
mối liên hệ nhân quả giữa một bên là những “phương tiện thẩm mỹ” được sử dụng
trong bài thơ và bên kia là giá trị nghệ thuật của bài thơ. Nói rõ hơn là việc
sử dụng mỗi “phương tiện thẩm mỹ” làm bài thơ hay hơn hoặc dở đi cỡ nào.
Thí dụ:
Sử dụng vần dầy đặc như
trong bài thơ Thềm Xưa Em Đợi Người Về khiến bài thơ có Hội Chứng Nhàm Chán Vần
đọc lên rất “ầu ơ, ví dầu”, nghe chán lắm, làm giảm giá trị bài thơ đi rất nhiều.
Hoặc là:
Trong “Quê Nghèo” Đặng
Xuân Xuyến đã có thể - bằng kỹ thuật gieo vần và thay đổi số chữ trong câu -
khiến tứ thơ chảy thành dòng và cảm xúc cũng nương theo đó tuôn chảy và phát
triển “sóng sau dồn sóng trước”. Ngược lại, TXEĐNV của Hà Nhữ Uyên chỉ là 6 “hố
thơ” riêng biệt.
Bây giờ anh Châu Thạch đọc
lại bài bình thơ của mình lần nữa xem anh có bàn thi pháp không? Không bàn thi
pháp thì cứ nhận là không bàn thi pháp. Việc gì phài nói đông, nói tây, cãi chầy
cãi cối cho rách việc.
Anh làm luật sư biện hộ mà
giả bộ ngu ngơ kiểu đó thì chỉ vài lần là mất bằng luật sư.
Theo tôi, anh Hà Nhữ Uyên
nắm rất vững luật thơ nhưng anh áp dụng việc gieo vần và đặt số chữ trong câu một
cách quá chặt chẽ - thật ra còn quá mức yêu cầu của luật thơ - nên hội chứng
nhàm chán vần và sự đều đặn của nhịp điệu làm bài thơ tụt hẳn điểm giá trị nghệ
thuật. Nhưng anh Châu Thạch không biết điều đó, đem lối bình thơ “chỉ khen,
không chê” vào múa may quay cuồng thêm nữa nên bài thơ được nâng lên một tầm
cao đến chóng mặt, vượt xa giá trị thực sự của nó.
Trong khi Đặng Xuân Xuyến,
cũng nắm vững luật thơ nhưng đã áp dụng chúng một cách uyển chuyển nên dòng thơ
của anh nhẹ nhàng, thanh thoát hơn, dễ thấm vào hồn người hơn. Nhưng ông Nguyễn
Bàng bình thơ của anh lại không bàn thi pháp nên “kỹ thuật thơ”, “tài thơ” của
anh bị lờ đi, có cũng như không.
3/ Châu Thạch Phản Biện:
"Phạm Đức Nhì chê:
Nhịp điệu: Mỗi câu 8 chữ,
mỗi đoạn 4 câu, đọc lên nhịp điệu đều đặn tẻ nhạt. Tác giả tự trói buộc mình
trong quy luật của thơ mới nên tâm thế, phong thái không được tự do.
Châu Thạch biện hộ:
Xin hãy đọc đoạn thơ trong
bài "Ave Mari" của Hàn Mạc Tử:
Như song lộc triều nguyên
ơn phước cả
Dâng cao dâng thần nhạc
sánh hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cõi
Thiên Đường
Huyền diệu bến thành muôn
linh trọng thể
Toàn bộ bài của Hàn Mạc Tử
đều mỗi đoạn 4 câu và mỗi câu 8 chữ. Bài thơ nầy đã trở thành bất hủ."
Phạm Đức Nhì Trả Lời:
Bài Ave Maria (không phải
Mari) của Hàn Mặc Tử có 62 câu mỗi câu 8 chữ nhưng vì gieo vần liên tiếp nên là
loại thơ nhất khí liền mạch, ý này nối với ý kia liên tục cho phép tứ thơ và cảm
xúc chảy thành dòng. Đây không phải là loại thơ Trường Thiên mỗi đoạn 4 câu.
Anh Châu Thạch không quen để ý đến thi pháp nên đã nhận diện thể thơ “hơi bị
sai”. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Quan trọng là dù nhất khí liền mạch Ave Maria
cũng mắc một chứng bệnh khá nặng: Hội Chứng Nhàm Chán Vần, đọc lên rất ngán, rất
buồn ngủ. Độc giả có thể đọc cả bài thơ Ave Maria theo link dưới đây:
https://www.thica.net/2013/06/09/ave-maria/
4/ Châu Thạch Phản Biện:
"Phạm Đức Nhì chê:
Vần: Vần gieo cả 1/3 lẫn 2/4 kỹ lưỡng (6 đoạn
12 cặp vần, không bỏ sót cặp nào), có nhiều cặp gieo chính vận nên hội chứng
nhàm chán vần rất nặng, đọc 2 đoạn đã thấy giọng “ầu ơ”. Thêm vào đó, tác giả lại
còn chơi cả yêu vận (vần lưng)
Châu Thạch biện hộ:
Mời đọc bài thơ “Trên Đường
Về” trong tập thơ Điêu Tàn của Chế lan Viên có 7 đoạn và 14 cặp vần gieo 1/3 lẫn
2/4 không bỏ sót cặp nào.
Xin đơn cử một đoạn thôi:
Đây những tháp gầy mòn vì
mong đợi
Những đền xưa đổ nát giữa
thời gian
Những sông vắng lê mình
trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ
rên than
Bài thơ nầy cũng cũng đã
trở nên biểu tượng của thơ."
Phạm Đức Nhì Trả Lời:
Trên Đường Về của Chế Lan
Viên có 8 đoạn mỗi đoạn 4 câu (bị thời đó kiểm duyệt 2 câu sau của đoạn đầu)
nên 7 đoạn sau có 14 cặp vần đúng như anh Châu Thạch nói. Với cách gieo vần đó
thì dù của Chế Lan Viên hay của “thi thần”, thi bá nào đi nữa, hội chứng nhàm
chán vần cũng làm người đọc ngán ngẩm, ngáp dài. Đọc bài phản biện của Châu Thạch,
bạn thơ một thời của anh là Nguyên Lạc, muốn bình luận nhưng đã bị anh “chặn”
nên có gởi cho tôi 2 đoạn nhận xét. Đây là đoạn đầu:
“Ha ha! Cái ông thần Châu
Thạch này! Tưởng rằng ông là nhà phê bình đầy hiểu biết, ai dè lại phải đem những
ông nhà thơ có tiếng trước ra để bảo vệ ý kiến mình. Chắc gì các ngài ấy đã hoàn toàn đúng. Đúng
sai cũng tùy thời, tùy lúc. Đâu phải cái gì của người đi trước là không được
phê phán, là cấm kị. Đừng lợi dụng tiền nhân cho cái dục nhỏ hẹp của bản thân
mình. Và cũng đừng đem tiền nhân ra HÙ, làm VŨ MÔN chặn CÁ CHÉP trẻ hoá RỒNG"
(1)
Chế Lan Viên viết Trên Đường Về năm 1937. Bài thơ lúc ấy được chú ý vì nó là đứa con tinh thần của một thiếu niên mới 17 tuổi trong lúc Phong Trào Thơ Mới còn rất non trẻ. Tính đến nay (2018) đã 81 năm. Ôi! Gần một thế kỷ trôi qua, bộ mặt của thơ đã đổi thay rất nhiều, trong đó thi pháp cũng đã tiến triển vượt bực.
Vậy mà nhà bình thơ Châu
Thạch - ở thời điểm này - vẫn lấy bài thơ của 81 năm trước làm biểu tượng, làm
mẫu mực để ca tụng TXEĐNV, một bài thơ có vóc dáng giống hệt như được đúc từ một
cái khuôn. Nhìn cách lập luận của Châu Thạch để biện hộ cho việc đánh giá quá
cao bài thơ TXEĐNV mà thấy buồn, thấy tủi hổ cho giới bình thơ, cho Thi Ca Việt
Nam.
4/ Châu Thạch Phản Biện:
"Phạm Đức Nhì viết:
Dòng chảy của tứ thơ: Bài
thơ gồm 6 đoạn, mỗi đoạn 4 câu diễn tả một ý riêng biệt; từ đoạn trước sang đoạn
sau không bắt vần nên tứ thơ đứt đoạn, phân tán, không có dòng chảy.
Châu Thạch biện hộ:
Đọc bài thơ Tràng Giang của
Huy Cân [...] ta thấy có 4 đoạn, mỗi đoạn diễn tả không những một ý riêng biệt
mà còn một cảnh riêng biệt. nhưng tất cả cũng chỉ mục đích là miêu tả Trường
Giang. Từ khổ thơ trước qua khổ thơ sau cũng không hề bắt vận. Ở đây bài thơ
“Thềm xưa em đợi người về” mỗi đoạn tỏ bày một tâm tư của em, và tất cả cũng để
nói lên nỗi lòng của người ngồi bên “Thềm xưa em đợi anh về”. Thiết tưởng liên
kết của các ý thơ còn sít sao và trôi chảy hơn Tràng Giang nữa.
5/ Châu Thạch Phản Biện:
"Phạm Đức Nhì viết:
Cảm xúc: Cảm xúc tạo được ở
đoạn nào nằm tại đoạn đó, không chảy thành dòng để có sự tiếp nối “sóng sau dồn
sóng trước” tạo cao trào, hình thành hồn thơ. Cảm xúc phần lớn ở tầng 1 (câu,
chữ hay), rất ít ở tầng 2 (thế trận), hoàn toàn không có cảm xúc ở tầng 3 (cao
hứng, nổi điên). Với vóc dáng này TXEĐNV chắc chắn không thể có hồn thơ.
Châu Thạch biện hộ:
Khổ 1: Em đợi chàng với sự
nóng lòng hiện lên trên cử chỉ
Khổ 2: Em khắc khoải mong
chờ và giật mình mỗi khi tưởng có tin anh
Khổ3: Măt ngấn lệ, em gọi
tên anh những đến trăng khuya cũng tắt.
Khổ 4: Em cố nhủ lòng thôi
đừng phiền đừng khóc nhưng muộn phiền vẫn chẳng nguôi khuây.
Khổ 5: Anh gieo vào lòng
em nỗi sầu như hoa Thạch Thảo bên tường mưa ướt, như con chim hóa bụa hót rưng
rưng.
Khổ 6: Em khờ khạo nên để
mối đùn trăm nối nhớ. Ngược lại anh thì cam tâm hờ hững tự bao giờ.
Bài thơ có một nối kết rõ
ràng từ khổ 1 cho đến khổ 6. Cảm xúc “sóng sau dồn sóng trước’ và mỗi lúc một
cao độ hơn. Cuối cùng tác giả dùng hình ảnh tổ mối đùn lên để nói về nỗi nhớ thật
là sống động đến độ tuyệt vời."
Phạm Đức Nhì Trả Lời 4+5:
Thể thơ, vần điệu và những
phương tiện thẩm mỹ khác của thi pháp chính là Con Kênh để cho tứ thơ lưu chuyển.
Nhưng hai bài Tràng Giang của Huy Cận và TXEĐNV của Hà Nhữ Uyên do chọn thể thơ
Trường Thiên (nhiều đoạn, mỗi đoạn 4 câu) nên không có Con Kênh mà chỉ có những
“hố” riêng biệt nằm cạnh nhau. Nước hố này không thể tiếp cận nước hố kia thì
làm sao có dòng chảy? Không có dòng chảy thì làm sao có “sóng sau dồn sóng trước”?
Làm sao có cao trào? Làm sao có hồn thơ?
Viết theo thể thơ ấy, nói theo ngôn ngữ bóng đá, khán giả không thấy được thế trận, đấu pháp toàn đội lưu chuyển một cách sống động mà chỉ có những lần chơi bóng chết, những cú đá phạt. Hết cú đá phạt này lại chuyển qua cú đá phạt khác, cũng lại bóng chết. Đá phạt dù có siêu như Messi, từ xa hơn 30m bóng bay vào đúng góc trống của khung thành (có khi đúng ngay mắt lưới mà người sút nhắm tới) thì cũng chỉ là phần kỹ thuật.
Cái đưa bóng đá lên hàng nghệ thuật làm khán giả say mê là khả năng đi bóng,
chuyền bóng, lên công về thủ theo một đấu pháp hợp lý, sáng tạo và hiệu quả cộng
với sự hưng phấn cao độ cùng ý chí quyết đấu quyết thắng của cầu thủ.
Những thứ ấy những bài viết
theo thể thơ Trường Thiên như Trên Đường Về, Tràng Giang hay TXEĐNV không thể
nào có được. (2)
6/ Châu Thạch:
"Tóm lại theo tôi,
đây là một bài thơ hay. Mà dẫu tôi có bình sai, anh Phạm Đức Nhì thấy không hay
thì cũng chẳng nên đem búa ra để đập bài thơ của một tác giả ra như thế, mà lại
phê phán quá bất công với nhà thơ ấy. Tôi thấy anh Nhì còn lấy những tiêu chuẩn
thơ của chính anh tự đặt như một vị thầy để chê thơ anh Phạm Đức Tùng không phải
là thơ nữa."
Phạm Đức Nhì Trả Lời:
"Tôi chỉ có ý kiến với
cách bình thơ của 3 nhà phê bình Châu Thạch, Nguyễn Bàng, Bùi Đồng và các nhà
bình thơ không bàn thi pháp khác. Tôi đã bỏ công viết 2 đoạn khá dài để “tâm sự”
với 2 tác giả của 2 bài thơ liên quan. Tôi chọn cách bình thơ nói thẳng, nói thật,
không nể nang, hay thì khen, dở thì chê nên cũng thường làm nhiều người phật ý.
Khi tác giả đem bài thơ ra
trình làng, nó như cô gái giữa chợ để ông đi qua, bà đi lại nhìn ngắm khen chê.
Có người khen nịnh, có người có điểm khen, có chỗ chê một cách công bằng trung
thực. Và dĩ nhiên, có người bươi móc, dè bỉu một cách ác ý. Tác giả bài thơ có
quyền phản biện. Độc giả bất bình cũng có quyền nhảy vào tranh luận. Tôi đụng
chạm tới 2 bài thơ được bình là bất khả kháng. Nhưng đó là quyền của tôi.
Một nhà bình thơ như Châu
Thạch mà lại buồn bực, chê trách tôi đụng tới bài thơ TXEĐNV của Hà Nhữ Uyên
thì thật là chả hiểu gì về quan hệ giữa sáng tác và phê bình hết. Rồi lại còn
dám mở miệng “chỉ xin anh nên xin lỗi nhà thơ Hà Hữu Uyên vậy” thì đúng là câu
nói vô cùng bậy bạ của một người không biết chuyện, thiếu suy nghĩ.
Còn việc tôi cho rằng bài Em Còn Trẻ Và Em Không Thể Biết của Nguyễn Đức Tùng (không phải Phạm Đức Tùng) không phải là thơ thì tôi đã viết hẳn một bài chứng minh đầy đủ. Chính anh Nguyễn Đức Tùng cũng không có ý kiến gì và đã chia sẻ bài của tôi về trang FB của anh ấy. Tôi kính phục anh NĐT về thái độ dũng cảm chấp nhận sai sót của mình.
Câu nói của
Châu Thạch: “Tôi thấy anh Nhì còn lấy những tiêu chuẩn thơ của chính anh tự đặt
như một vị thầy để chê thơ anh Phạm Đức Tùng không phải là thơ nữa” có ý cho rằng
tôi cả gan nói liều và nói sai. Nếu Châu Thạch không đồng ý thì đưa chứng cứ
ra, dùng lập luận phê phán; tôi sẵn sàng thù tiếp. Anh phát biểu khơi khơi,
không dẫn chứng kiểu đó là một hình thức “chửi đổng”, không phải là thái độ của
nhà phê bình đứng đắn.
Còn nữa, Châu Thạch nói
tôi “chê thơ anh Phạm Đức Tùng không phải là thơ nữa” là bao gộp một cách cẩu
thả, có thể gây ngộ nhận. Tôi chỉ cho rằng bài ECTVEMKTB của NĐT không phải là
thơ, chứ không đá động đến những bài thơ khác của anh ấy.
7/ Châu Thạch:
"Tôi nhớ trước đây
trong “Câu Chuyện Văn Chương” nhà thơ lớn Lê Mai Lĩnh có nói như sau:
“Thưa anh nhà thơ PHẠM ĐỨC
NHÌ:
Anh nói : TÔI DÀNH SỰ PHÁN
XÉT SAU CÙNG CHO ĐỘC GIẢ
Vậy tôi đề nghị anh NÊN
NÓI LỜI XIN LỖI VỚI ANH CHÂU THẠCH. Bài của nhà phê bình CHÂU THẠCH rất HÀN
LÂM, NGƯỜI LỚN.
Mặc dù anh đã HÀN GẮN NHỮNG VẾT ĐỤC ĐẼO lên
PHO TƯỢNG TỐNG BIỆT HÀNH, những sự MẤT MÁT VẪN CÒN, NIỀM ĐAU CŨNG CÒN.
Vậy anh nên viết bài tạ lỗi
với độc giả của T.Vấn & Bạn Hữu, rằng anh đã chạm vào tình cảm YÊU THƠ của
họ dành cho THẦN TƯỢNG THÂM TÂM.”
Hôm nay Châu Thạch tôi
cũng xin dùng câu đó để nói lại với anh Phạm Đức Nhì nhưng không phải biểu anh
xin lỗi tôi hay xin lỗi anh Nguyến Bàng, Anh Bùi Đồng mà chỉ khuyên anh nên xin
lỗi nhà thơ Hà Nhữ Uyên vậy."
Phạm Đức Nhì Trả Lời:
Ông Lê Mai Lĩnh đã có lần
cao hứng viết một bài liên quan đến tôi có một số điểm không đúng. Tôi đã phản
biện và ông đã không trả lời. Chúng tôi đã hiểu ngầm coi đó là “chuyện đã qua”.
Chính Nguyên Lạc, bạn của LML và có một dạo là bạn văn chương của anh cũng nói:
"Châu Thạch chơi trò
‘bỏ bóng đá người’ mới đem Nguyễn Đức Tùng (CT viết Phạm Đức Tùng) và LML vào
bài viết. Tôi có đọc về vụ LML. Ông này gia trưởng, nghĩ rằng mình là người đi
trước, đàn anh là có toàn quyền muốn nói gì là nói. Tôi thấy trong vụ tranh biện,
ông LML đã im lặng khi bị anh phản biện.Anh phê bình cách bình thơ của Châu Thạch
rất chính xác." (1)
Giờ nhắc lại chuyện xưa
anh chỉ đưa ra đoạn “nói sai” (mà anh tưởng là đúng?) của ông LML mà ém đi đoạn
trả lời của tôi. Đó là kiểu lươn lẹo, “ma giáo” cần thiết để tranh lợi, tranh
thắng trong những môi trường khác, không hợp với chỗ tranh luận văn chương. Có
một bài viết mà phải mấy lần “kéo áo” anh về thái độ lịch sự, lương thiện trong
tranh luận văn chương. Thật chán.
Sau đây là nội tình chuyện đúng sai
Mới đây dưới một bài bình thơ của tôi trên Facebook ông Lê Mai Lĩnh đã khơi mào và chúng tôi có qua lại mấy câu như sau:
Le Mai Linh Nhi Pham
Tôi còn nợ anh món nợ TỐNG
BIỆT HÀNH, nghĩa là sau nầy nghĩ lại, tôi thiển cận, nghĩa là anh ĐÚNG tôi SAI.
Hì hì
Nhi Pham Le Mai Linh Vụ Tống Biệt Hành, chúng ta “bắt tay” cho vui
vẻ.
Tôi cũng thích lối phản biện
văn chương của anh – rõ ràng, mạnh mẽ và “độc”.
Le Mai Linh Nhi Pham
OK. Bắt tay. Cảm ơn anh.
Lâu nay tôi vẫn lấn cấn
đó.
Xin được cám ơn cách hành
xử rất người lớn, rất đàn anh của anh Lê Mai Lĩnh.
Phạm Đức Nhì
Tóm lại, bình thơ không
bàn thi pháp thường mắc những sai phạm sau đây:
1/ Đối xử với bài thơ như một đoạn văn, không hơn, không kém.
Chỉ bình tán ý tứ mà quên Kỹ Thuật Thơ. Chỉ
trả lời câu hỏi “Viết cái gì?” (What?) mà quên 2 câu hỏi quan trọng khác “Viết
thế nào?” (How?) và “Viết trong tâm thế nào?” (In what state of mind?)
2/ Bất công.
a/ Những bài thơ yếu kém về mặt thi pháp
thì những điểm yếu kém không bị nhắc tới, làm giá trị bài thơ tự nhiên như được
một bàn tay vô hình nâng lên một cách bất công. Tệ hại hơn nữa là nhà phê bình
đã thổi vào hồn tác giả một niềm tự hào thiếu căn cứ để nảy sinh tâm lý tự mãn;
thi sĩ quanh đi quẩn lại, bì bõm trong vũng sình lầy lội mà cứ ưỡn ngực như
đang đi trên đại lộ thẳng hướng Bến Bờ Thi Ca.
b/ Những bài thơ vững vàng, tiến bộ về mặt
thi pháp thì những bước chân khai phá ấy cũng bị lờ đi, ảnh hưởng đến việc nhìn
nhận giá trị của bài thơ. Người nỗ lực học hỏi và may mắn có được những bước
chân khai phá đi đúng hướng bến bờ thi ca như thế thì vìkhông có người biết
chuyện chia sẻ, thông cảm, khuyến khích nên tâm trạng nửa tin, nửa ngờ, chân ngập
ngừng, vừa bước vừa run; nếu bất ngờ đụng phải một trở ngại nhỏ cũng dễ dàng bỏ
cuộc.
Kết Luận
Đọc Châu Thạch, rất nhiều
độc giả (có cả tôi) công nhận anh là người đam mê, có lòng với văn chương và viết
rất khỏe. Những bài bình thơ của anh, như từ một gia đình mắn con, cứ lũ lượt
ra đời. Anh đem kinh nghiệm sống dầy dặn của mình vào những lời bình tán rất có
duyên. Anh có cái “tật” là bình thơ chỉ khen, không chê. Trong trao đổi riêng,
và cả trong tranh luận, tôi thỉnh thoảng cũng nhắc khéo anh điều này. Có lần
anh nói với tôi nửa đùa nửa thật “Anh mới là bình thơ, còn tôi chỉ là nịnh thơ
thôi”.
Riêng thi pháp, nói thì
đao to búa lớn, về mặt thực dụng, thật ra là hình thức thơ, kỹ thuật thơ hoặc
cách thi sĩ áp dụng (hay không áp dụng) “luật tắc” trong bài thơ của mình. Giữa
mỗi “phương tiện thẩm mỹ” trong thi pháp đều có mối liên hệ nhân quả với cái
hay, cái đẹp của cách diễn đạt ý tứ, nói khác đi, là giá trị nghệ thuật của bài
thơ. Châu Thạch và một số những người bình thơ không bàn thi pháp khác đã chỉ
tán cái “quả” mà quên cái “nhân”, quên trả lời câu hỏi “Tại sao lại có cái quả
đẹp (hay xấu) như vậy?”
Bình thơ kiểu ấy là giết
chết “tính thơ” của bài thơ. Nghĩa là giết chết thơ.
Phạm Đức Nhì
-----------------------
CHÚ THÍCH:
1/ Cám ơn anh Nguyên Lạc
đã cho phép tôi được đưa 2 đoạn nhận xét của anh vào bài viết này.
2/ Có những bài tứ thơ được
dàn trải theo thứ tự thời gian. Lúc ấy dòng chảy của tứ thơ cũng là dòng thời
gian. Nhưng cảm xúc cũng vẫn bị phân tán, không thể tạo cao trào, không thể có
hồn thơ. Ông Đồ của Vũ Đình Liên là một thí dụ.
Bài 5
VÀI Ý KIẾN VỀ BÌNH THƠ KHÔNG THI PHÁP CỦA PHẠM ĐỨC NHÌ
Vừa qua, Bông Tràm có đăng
hai bài: "Bình thơ không thi pháp" của Phạm Đức Nhì và bài phản biện
của Châu Thạch. Để bạn đọc có cái nhìn tổng quan hơn vấn đề đặt ra giữa hai nhà
phê bình, hôm nay Bông Tràm xin đăng tải vài ý kiến của Lê Thiên Minh Khoa do
Châu Thạch gửi đến.
Anh Châu Thạch quý mến!
Sáng nay, em đọc bài Phản
biện... của anh. Thấy đồng ý hoàn toàn về lập luận của anh, và thấy không cần
phải nói thêm gì với ông Nhì nữa. Thực
ra, bài viết của ô Nhì có nhiều "lỗ hỏng" lắm. Chỉ nói
với anh về vài "lỗ hỏng"
trong bài viết của ông ta:
1. Thi pháp là một thuật ngữ của một của một ngành học mới - thi pháp học, một chuyên ngành hẹp của lý luận văn học (và của cả Mỹ học nữa). Là thuật ngữ thì nó có nghĩa khái niệm được chuyên ngành qui ước, không thể tự hiểu tự định nghĩa theo ý hạn hẹp chủ quan mình như ông Nhì đã phát biểu: “Thi pháp (poetics) là phương pháp, quy tắc làm thơ - sử dụng vần, nhịp điệu (và các phương tiện thẩm mỹ khác của thơ) nối kết các con chữ thành một thế trận để chuyển tải thông điệp và cảm xúc của thi sĩ đến độc giả.” Cách hiểu của ông Nhì có nhiều cái sai:
- Trước hết, không nên chiết tự từ (vì thuật ngữ nầy đã có sẵn nghĩa qui ước của thuật ngữ do môn khoa học nầy quy định) mà lại hiểu đơn giản: thi là thơ; pháp là phép, rồi suy ra: thi pháp la quy tắc làm thơ!... Thực ra, thi pháp ngày nay được người có học trong ngành văn chương hiểu như GS-TS Trần Đình Sử, nhà khoa học hàng đầu về Thi pháp học VN trích dẫn định nghĩa của Viacheslav Ivanov: “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ được sử dụng trong đó".
Hiểu như vậy thì Thi pháp (poetics) không
chỉ là phương pháp, quy tắc làm thơ mà rộng hơn nữa: quan niệm nghệ thuật, thời
gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, hình tượng tác giả trong sáng tạo nghệ
thuật là bốn vấn đề cốt lõi của tinh thần
thi pháp (Theo Đào Thái Sơn – Vài nét về Thi pháp học hiện đại). Còn nữa, đối
tượng của thi pháp không chỉ là thể loại thơ (trữ tình) mà còn mở rộng ra các
thể loại khác: truyện (tự sự), kịch và ký. Bởi vậy, ngoài kiểu nói: thi pháp
Truyện Kiều, thi pháp thơ Tố Hữu..., người ta còn nói: thi pháp truyện ngắn,
thi pháp tiểu thuyết, thi pháp kịch… nữa.
- Hơn nữa, thi pháp không chỉ là "sử dụng vần, nhịp điệu (và các phương tiện thẩm mỹ khác của thơ) nối kết các con chữ thành một thế trận" chỉ gồm các yếu tố thuần hình thức, như ông Nhì định nghĩa mà thi pháp còn là "khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ được sử dụng trong đó". Chỉ nói riêng về từ "cấu tạo": Cấu tạo bao hàm cả yếu tố nội dung: ý, tứ, nghĩa..., chứ không chỉ là hình thức, thủ pháp nghệ thuật thơ ca hoặc "sử dụng vần, nhịp điệu".
Đúng ra phải nói là tính nhạc của thơ, vì nhạc tính
của thơ mới bao gồm đủ cả 4 yếu tố: âm
(âm đầu, âm chính, âm cuối), thanh, vần, nhịp của thơ, trong đó, thanh (nhóm
thanh bằng, nhóm thanh trắc, nhóm thanh cao, nhóm thanh thấp) và nhất là nhịp
(tiết tấu) là hai yếu tố quan trọng nhất, thiếu nó văn bản không thể thành thơ,
chứ không phải là vần và nhịp như ông Nhì đã khẳng định trong định nghĩa trên.
Chính chúng (thanh và nhịp) đã góp phần làm cho thơ văn xuôi hội đủ điều kiện
thành thơ, vì bài thơ có thể không vần, không cần có sự hài âm, nhưng không thể
thiếu yếu tố hài thanh và tiết tấu...
2. Lại nữa, ông Nhì viết: "Dòng chảy của tứ thơ: Bài thơ gồm 6 đoạn, mỗi đoạn 4 câu diễn tả một ý riêng biệt; từ đoạn trước sang đoạn sau không bắt vần nên tứ thơ đứt đoạn, phân tán, không có dòng chảy". Như thế, rõ ràng là: ông Nhì chưa nắm rõ về khái niệm "tứ thơ". Cũng đúng thôi, vì "Tứ thơ là một khái niệm có vẻ rất khái quát và trừu tượng nên rất khó diễn giải...“Tứ thơ” được hiểu như là một phương thức nào đó để tổ chức liên kết các ý trong bài thơ và hệ thống các ý đó với “tình” của nhà thơ và biểu hiện chúng bằng yếu tố ngôn ngữ (từ). Cả ba yếu tố đó tổng hòa trong một thể thống nhất gọi là bài thơ – tác phẩm.
Như thế, chất
trí tuệ, năng lực hư cấu văn học và trí tưởng tượng của nhà thơ được vận dụng hết
công suất để xây dựng tứ thơ mà giới chuyên ngành gọi là “cấu tứ”. Chính tứ thơ
làm cho văn bản trở thành bài thơ, là yếu tố không thể thiếu của một bài thơ,
nhất là thơ hiện đại". (LTMK - Lại Nghĩ Về Thơ - Tuần báo Văn nghệ số 5 -
03.02.2018). Như thế, tứ thơ không phải do vần mà có, như ông Nhì đã tưởng và
viết: "từ đoạn trước sang đoạn sau không bắt vần nên tứ thơ đứt đoạn, phân
tán, không có dòng chảy". Hơn nữa, trong thơ hiện đại, thơ hậu hiện đại,
thơ văn xuôi... có những bài không vần (chứ chưa nói "không bắt vần")
mà tứ thơ vẫn liên tục, liền mạch. Thơ không vần thì lấy đâu vần mà bắt, và như
vậy là không có tứ thơ và không phải thơ sao? ...
Vài dòng cùng anh. Chúc
anh vui khỏe.
Thân quý.
Người em chưa gặp mặt anh.
Lê Thiên Minh Khoa
Bài 6
MỘT CÁCH HIỂU TỨ THƠ KỲ QUẶC
Bắt Đầu Từ Cuộc Tranh Luận Về Thi Pháp
Cách đây khá lâu tôi có viết bài Bình Thơ Không Bàn Thi Pháp để phê phán lối bình thơ của 3 nhà phê bình Châu Thạch (Trương Văn Trạn), Nguyễn Bàng và Bùi Đồng. Lý do: Khi bình thơ họ chỉ bình tán ý tứ và “lờ tít” phần thi pháp của bài thơ.
Những gì liên quan đến kỹ thuật thơ, “tính thơ” họ đều chặt bỏ (cho gọn) để việc bình tán được đơn giản, dễ dàng. Rốt cuộc bài thơ trên bàn mổ của họ chỉ là một “bản văn” không hơn, không kém.
Ông Lê Thiên Minh Khoa, một người theo trường phái Lý Luận Phê Bình Văn Học của Nga, có một bình luận dài dưới bài viết của tôi. Bình luận ấy đã được chuyển thành bài viết Vài Ý Kiến Về Bình Thơ Không Thi Pháp và được anh Châu Thạch (Trương Văn Trạn) gởi đăng trên trang web Bông Tràm.
Độc giả nếu muốn, có thể đọc
2 bài tranh luận theo links (1 và 2) ở phần CHÚ THÍCH.
Cách Hiểu “Tứ Thơ” Của Ông Lê Thiên Minh Khoa
Ông Lê Thiên Minh Khoa diễn giải “tứ thơ” như sau:
“Tứ thơ” được hiểu như là
một phương thức nào đó để tổ chức liên kết các ý trong bài thơ và hệ thống các
ý đó với “tình” của nhà thơ và biểu hiện chúng bằng yếu tố ngôn ngữ (từ).
Như vậy, theo ông Khoa, tứ thơ gồm 3 thành phần:
1/ Hệ thống các ý trong bài thơ; 2/ “Tình” của nhà thơ; 3/ ngôn ngữ (từ).
Nhưng rồi ông lại viết:
“Cả ba yếu tố đó tổng hòa trong một thể thống nhất gọi là bài thơ – tác phẩm”.
Như vậy tứ thơ cũng chính
là “bài thơ – tác phẩm”.
Độc giả (chắc giống tôi) đã thấy hơi “bối rối” (confused) thì ông Khoa lại viết tiếp:
Như thế, chất trí tuệ, năng lực hư cấu văn học và trí tưởng tượng của nhà thơ được vận dụng hết công suất để xây dựng tứ thơ mà giới chuyên ngành gọi là “cấu tứ”.
À! Khi “chất trí tuệ, năng lực hư cấu văn học và trí tưởng tượng của nhà thơ được sử dụng hết công suất (làm sao biết được là ‘hết công suất’ hả trời?) thì tứ thơ vươn mình thành ‘cấu tứ’”.
Tóm lại, theo sự diễn giải của ông Khoa thì tứ thơ cũng chính là bài thơ (tác phẩm) và cũng chính là “cấu tứ”.
Nhưng không hiểu sao ông lại viết thêm:
“Chính tứ thơ làm cho văn bản trở thành bài thơ, là yếu tố không thể thiếu của một bài thơ, nhất là thơ hiện đại".
Tứ thơ cũng là bài thơ mà lại còn viết “Chính tứ thơ làm cho văn bản trở thành bài thơ” thì đúng là “Vân Tiên cõng mẹ chạy ra/ Đụng phải cột nhà cõng mẹ chạy vô”
Sợ độc giả (cũng như tôi) không tiêu hóa nổi những ngôn từ đầy tính học thuật của ông Lê Thiên Minh Khoa rồi “tẩu hỏa nhập ma” đánh đồng Tứ Thơ với Bài Thơ hoặc Cấu Tứ nên tôi viết mấy đoạn vắn tắt dưới đây để phân biệt.
PHÂN BIỆT TỨ VÀ Ý
Nếu nói thơ có phần xác và phần hồn, trái với nhận định của một số người, tôi cho tứ thơ thuộc về phần xác. Khi đã có chủ đích viết cái gì (ý) thi sĩ sẽ chọn cách tiếp cận, cách truyền đạt ý của mình đến độc giả.
Công việc lựa chọn ấy - tìm tứ thơ – sẽ đóng góp lớn cho giá trị của bài thơ nếu tác giả chọn được tứ hay, mới lạ. Dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng việc tìm tứ thơ lại do lý trí đảm nhiệm. Tứ thơ, và cả ý, đều là sản phẩm của lý trí.
Ý: Điều tác giả muốn nói đến
Tứ: Cách để tiếp cận, diễn đạt ý
Khi tác giả chọn cách nói trực tiếp, nói thẳng điều muốn nói, bài thơ có ý và tứ giống nhau. Ý là tứ, tứ là ý, ý và tứ là một.
Thí dụ:
Giấc Mơ Anh Lái Đò của Nguyễn Bính
Ý và Tứ là một: Anh lái đò nói về mối tình tuyệt vọng của mình.
Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác
Ý và Tứ là một: Hào khí của một sĩ phu trước cảnh đất nước điêu linh
Khi tác giả không muốn nói
trực tiếp, không muốn nói thẳng điều muốn nói mà mượn một hình ảnh khác, một sự
kiện khác để thố lộ lòng mình, bài thơ có ý và tứ khác nhau. Ý là điều muốn
nói; tứ là hình ảnh mượn để thố lộ lòng mình.
Thí dụ:
Ông Đồ của Vũ Đình Liên
Tứ: Ông đồ ngồi bên phố viết câu đối thuê cho khách du xuân. Nay xuân đến, không thấy ông đồ nữa, nhiều người tiếc nhớ.
Ý: Tác giả muốn nói đến nền nho học đã lụi tàn.
Nhớ Rừng của Thế Lữ
Tứ: Con hổ trong vườn bách thú tiếc nhớ những ngày còn là chúa sơn lâm, tự do vùng vẫy nơi rừng sâu núi cao - giang sơn của mình.
Ý: Tác giả mượn lời con hổ để nói đến hào khí, hoài bão, ước mơ của chính mình.
CẤU TỨ LÀ GÌ?
Cấu tứ chỉ đơn giản là bố cục của bài thơ. Tác giả dàn thế trận chữ nghĩa sao cho đủ sức thuyết phục để độc giả đồng ý rồi đồng cảm với điều mình muốn tỏ bày.
Ngôn ngữ bóng đá là sắp xếp đội hình, thế trận hợp lý - kỹ thuật cá nhân của cầu thủ được phát huy tối đa, các nhóm, các tuyến công thủ phối hợp nhịp nhàng, ăn ý. Mục đích cuối cùng là chọc thủng lưới đối phương, đem phần thắng cho đội nhà.
Cấu Tứ Của Bài Thơ “Giấc Mơ Anh Lái Đò”
Bài thơ được chia làm 4 đoạn:
1/
Năm xưa chở chiếc thuyền này
Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
Tác giả giới thiệu hoàn cảnh mà từ đó tình yêu của chàng với cô gái đã bén rễ: được mỗi chiều – bằng chiếc thuyền nhỏ bé của mình – chở cô sang bãi tước đay.
2/
Để tôi mơ mãi mơ nhiều
“Tước đay xe võng nhuộm điều
ta đi
Tưng bừng vua mở khoa thi
Tôi đỗ quan trạng vinh quy
về làng
Võng anh đi trước võng
nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò”
Tác giả không nói gì về tình yêu nhưng khi người đọc nghe chàng tâm sự là đã đưa cô vào trong cả giấc mơ “vinh quy bái tổ” của mình thì hiểu ngay rằng chàng đã yêu cô say đắm.
3/
Đồn rằng: đám cưới cô to
Nhà giai thuê chín chiếc
đò đón dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau
Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn
Tình địch của anh lái đò quá giàu, có thể tổ chức một đám cưới linh đình để lấy cô về làm vợ. Không kể việc thuê chín chiếc đò để đón dâu, đem đến nhà gái chín nghìn cau làm lễ vật mà còn có thể nạp chín nghìn quan tiền (một số tiền rất lớn) cho khoản tiền cheo, tiền cưới.
4/
Lang thang tôi dạm bán
thuyền
Có người giả chín quan tiền,
lại thôi
Trong khi cả cơ nghiệp của
anh lái đò – là chiếc thuyền – đem gạ bán thì người ta chỉ trả có chín quan tiền.(3)
Nguyễn Bính đã chia tứ thơ
thành 4 ý nhỏ, dàn thế trận chữ nghĩa một cách gọn gàng, mạch lạc, hợp lý để độc
giả “thấy” được, hiểu được, và cuối cùng đồng cảm với “nỗi đau xé ruột” của
mình.
Giới chuyên môn sẽ cho rằng
Cấu Tứ của bài thơ thành công. Ngôn ngữ thì có vẻ “cao cấp” lắm nhưng ý nghĩa
thì chỉ có thế.
Kết Luận
Ông Lê Thiên Minh Khoa bước vào cuộc tranh luận về thi pháp hình như chỉ để “khoe của”. Ông tuôn ra toàn những ngôn ngữ, ý niệm “đao to búa lớn”, đầy tính học thuật để “uy hiếp” chủ thể đối luận của mình và để “lòe” độc giả. Có điều chính ông cũng chưa “tiêu hóa” được những ý niệm đầy tính học thuật đó.
Ông chưa phân biệt được Tứ Thơ, “Bài Thơ – Tác Phẩm”, Cấu Tứ và nhất là văn bản nào đáng được trao danh hiệu Thơ và văn bản nào chỉ nên xếp vào loại “những cây dị chủng”.
Sau khi đọc cách hiểu Tứ
Thơ trong “rừng thi pháp học” của ông Lê Thiên Minh Khoa chắc không ít độc giả
đã cảm thấy hoang mang, bối rối. Mục đích của bài viết này là để “chữa cháy”.
Khi đối diện với Tứ Thơ, Bài Thơ, Cấu Tứ - những danh từ rất gần gũi trong thơ
– cách giải thích đơn giản của tôi hy vọng sẽ giúp quý vị tránh được một cơn nhức
đầu không đáng có.
Phạm Đức Nhì
CHÚ THÍCH:
1/
Vài Ý Kiến Về Bình Thơ Không Thi Pháp
http://www.bongtram.com/2018/04/vai-y-kien-ve-binh-tho-khong-thi-phap.html
2/
Trao Đổi Với Ông Lê Thiên Minh Khoa Về Thi Pháp
http://phamnhibinhtho.blogspot.com/2018/04/trao-oi-voi-ong-le-thien-minh-khoa-ve.html
3/
Được trích trong Giấc Mơ Anh Lái Đò Hay Mối Tình Vô Vọng (Phạm Đức Nhì)
http://phamnhibinhtho.blogspot.com/2016/06/giac-mo-anh-lai-o-hay-moi-tinh-vo-vong_1.html
Bài 7
TRAO ĐỔI VỚI ÔNG LÊ THIÊN MINH KHOA
VỀ THI PHÁP
I/ Lê Thiên Minh Khoa:
Phạm Đức Nhì:
Comments
Post a Comment