TRAO ĐỔI VỀ "QUÊ NGHÈO" VỚI CÔ NGUYỄN BÍCH THỦY
Với bài viết Vài Ý Kiến
Quanh Việc Mổ Xẻ Bài Thơ “Quê Nghèo” Của Đặng Xuân Xuyến cô Nguyễn Bích Thủy đã
có nhã hứng ghi lại một số nhận xét về Mục thứ 5 – Ưu Điểm Về Mặt Thi Pháp
Trong Bài Thơ “Quê Nghèo” - trong bài viết Bình Thơ Không Bàn Thi Pháp của tôi.
Nhận xét của cô thiên về cảm tính nên dù có nhiều chỗ cô phân tích rất sâu sắc,
nhiều tính thuyết phục, vẫn còn vài điểm tôi thấy cần trao đổi với cô để làm rõ
vấn đề. Bài viết này chỉ nhắm vào những điểm cần thiết đó. Nếu độc giả muốn đọc
cả bài viết của cô NBT thì link ở ngay sau đây:
http://dangxuanxuyen.blogspot.com/2018/04/vai-y-kien-quanh-viec-mo-xe-bai-tho-que.html
1/
Nguyễn Bích Thủy:
Chưa bàn đến hay, không
hay nhưng tôi thích bài thơ ở chỗ nó chân thực nhưng tôi không thích tứ thơ
này:
“Chiếc cổng làng thành tai
hại
Giam hãm đời người
Tù túng giấc mơ.
.
Quê tôi nghèo
Nghèo cả giấc mơ...”
Đây là chủ quan của tác giả.
Tôi nghĩ hãy để cho nó tự nhiên như vốn có.
Phạm Đức
Nhì:
Nếu cô NBT chỉ nói “nhưng
tôi không thích tứ thơ này” thì chẳng ai dám có ý kiến gì. Vì thích hay không
thích cái gì đó là quyền riêng tư của mỗi người. Cái sai của cô là ở câu “Đây
là chủ quan của tác giả”. Nếu cái gì trong thơ cũng là “thực tế khách quan”,
cũng “phải đạo”, cũng hợp với lẽ đời thì cái loại thơ ấy không đáng để ý, không
phải là thứ thơ mà nhân loại đang hướng tới.
Dĩ nhiên trong thơ cũng có
những nhân tố khách quan, nhưng những ý nghĩ, cảm giác chủ quan của tác giả là
chính. Nhiều khi những cái khách quan được đưa vào bài thơ chỉ để làm nổi bật
những ý nghĩ, cảm giác chủ quan của tác giả. Chính “chủ quan của tác giả” mới
làm bài thơ có cá tính (không chỉ viết về những cái ai cũng biết rồi), mới làm
nên giá trị của bài thơ, miễn là những “chủ quan của tác giả” hợp lý hợp tình
và những sự kiện khách quan cũng hợp tình hợp lý.
Câu nói của cô NBT có hai
phần; phần đầu đúng, còn phần sau thì sai nặng.
2/
Nguyễn Bích Thủy:
Dù cho tôi không biết bác
là ai, nhưng qua lời góp ý, phê bình của bác tôi thấy bác là người thẳng thắn
và khá chân tình, tất nhiên kẻ sỹ Bắc Hà không ai tránh khỏi một chút kẻ cả khi
bác nói: “Muốn đem một bài thơ nào đó của anh ra mổ xẻ để ‘mách nước’ cho anh bứt
phá chạy mau đến ‘bến bờ thi ca’”. Điều này chả ai giúp ai được bác ạ, vì nó tự
nhiên như ánh trăng, như cảm xúc lúc yêu đương phải không bác?
Phạm Đức
Nhì:
Thích bóng đá nên có một
thời gian ngắn tôi được một người bạn mời đi xem những trận đấu của các đội tuyển
xã tranh vô địch cấp huyện. Mục đích của anh bạn là muốn nhờ tôi “xem giò, xem
cẳng” những cầu thủ trẻ. Nếu thấy em nào “đá có nét”, có triển vọng anh sẽ tìm
cách rủ rê, mời gọi về làm lực lượng trừ bị cho đội tuyển của một ngành công nghiệp.
Anh cho tôi biết hãy chú trọng vào cách giữ bóng, che bóng, đi bóng, lừa bóng,
khả năng sút bóng xa của các em, còn những kỹ thuật khác khi tuyển về sẽ huấn
luyện thêm.
Trong thơ cũng vậy. Có thể
nói ngoại trừ cảm xúc ở tầng 3 - thứ cảm xúc mà nếu lên đến đỉnh điểm khi bài
thơ có cao trào sẽ thành hồn thơ – là không ai có thể dạy ai đưa nó vào bài thơ
được. Còn thì - đặc biệt ở phần thi pháp, mang tính kỹ thuật – cái gì cũng có
thể học hỏi được. Dĩ nhiên, học là học lý thuyết. Bước vào thực hành, mỗi người
một vẻ, kẻ thất bại, người thành công, chẳng ai dám nói mạnh.
Riêng với Đặng Xuân Xuyến,
tôi đã “xem giò, xem cẳng”, đọc thơ của anh khá nhiều và đã “chấm” sự đột phá
trong thi pháp của anh. Trong bài Quê Nghèo, về hình thức anh đã đạp đổ truyền
thống, vượt qua thơ mới, đang trụ ở thơ mới biến thể mà những sợi dây níu kéo
đang đứt dần để vươn tới một thể thơ “chưa có tên” - vần vừa độ ngọt, tứ thơ
thông thoáng, nhịp độ thay đổi theo cảm xúc đang chảy thành dòng ... - nếu viết
trong tâm thế cực kỳ phấn khích có thể thẳng hướng “Bến Bờ Thi Ca”.
Những khuyết điểm, sai phạm
về mặt câu chữ, ngay cả thế trận cũng có thể sửa chữa không mấy khó khăn, nhưng
cái tay nghề vững vàng đã trở thành thói quen trong thi pháp của anh không thể
một sớm một chiều mà có được. Nếu ĐXX nghe lời “mach nước” của tôi, nhận ra khả
năng và thế mạnh của mình, anh sẽ tự tin hơn khi viết những bài thơ kế tiếp. Với
thơ thì không nói chắc được, nhưng anh ĐXX còn trẻ, thời gian dành cho thơ còn
dài, việc để lại cho đời một đôi bài thơ sáng giá không phải là điều không tưởng.
Cô NBT cho rằng “Điều này chả ai giúp ai được bác ạ, vì nó tự nhiên như ánh trăng, như cảm xúc lúc yêu đương” là do cô đọc thơ chỉ như người “cỡi ngựa xem hoa”, chưa đi sâu nên chưa hiểu, chưa biết.
3/
Nguyễn Bích Thủy:
Nếu nghe câu này chắc chắn
lúc đầu tác giả không tránh khỏi bị sốc vì có người chê đứa con của mình ngay cả
người đó là mẹ vợ mình đi nữa: “Thật tình, đây là bài thơ còn khá xa mới đến mức
hoàn hảo. Có đến vài chỗ sai phạm, hoặc nếu không sai phạm thì cũng chưa hoàn
chỉnh, có thể o bế, trau chuốt để bài thơ hay hơn.”.
Điều này rất thẳng thắn,
tuy nhiên cũng là ý nghĩ chủ quan của bác PHẠM ĐỨC NHÌ vì thơ phú là cảm xúc của
từng người, nhất là thơ mới, không theo bất cứ một bó buộc, nguyên tắc gì.
Phạm Đức
Nhì:
Bình thơ là công việc nặng
tính chủ quan. Người bình đem kiến thức về thơ, cách đánh giá thơ ca của mình để
thẩm định giá trị nghệ thuật của bài thơ. Dĩ nhiên, ngoài một số rất ít những
tác phẩm hoàn hảo, mỗi bài thơ – “dù là cảm xúc của từng người” - đều có chỗ
hay, chỗ dở, có khi có cả những chỗ sai phạm. Nhiệm vụ của người bình là chỉ ra
những chỗ hay, vạch ra những chỗ dở, chỗ sai phạm để cuối cùng cân nhắc, khen,
chê bài thơ cho đúng mức.
Thí dụ bài Quê Nghèo của
ĐXX tác giả đã sử dụng hai chữ “oan khiên” trong câu:
Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ
với nghĩa sai lạc mà nhà
bình thơ Nguyễn Bàng đã vạch ra rất tinh tế, chính xác trong phần chú thích
“Góp ý riêng với tác giả về một câu thơ”. (1) Rõ ràng đây là một chỗ sai phạm.
Rồi còn mấy câu nói về “Lũ
trẻ” trong làng:
Lũ trẻ gầy như con cá mắm
Lũ trai mặt mũi mốc meo
Gặm nhấm nỗi đau nghèo khó
Nơm nớp âu lo đời như chiếu
bạc
Còn “lũ con gái thì sao?
ĐXX đã quên nên để độc giả vừa đọc vừa mỏi cổ ngóng chờ. Đây cũng là một chỗ
sai phạm.
Câu thơ:
“Tù túng giấc mơ”
trong đoạn:
Chiếc cổng
làng thành tai hại
Giam hãm đời
người
Tù túng giấc
mơ.
theo tôi, thật tuyệt vời.
Nhưng đã làm 2 câu:
Quê tôi
nghèo
Nghèo cả giấc
mơ.
mất tính bất ngờ và nhạt hẳn
đi về mặt ý nghĩa. Vụng về trong sử dụng điệp ngữ đã làm hỏng 2 câu kết. Có thể
nói trong Quê Nghèo đội của ĐXX đi bóng, lừa bóng, chuyền bóng rất điệu nghệ
nhưng khi đến sát cầu môn đối phương thay vì ghi bàn thắng lại đá ra ngoài.
Tôi, ở đây không bình thơ
mà chỉ bàn đôi chút về thi pháp nên không đi sâu thêm nữa.
Còn nói như cô NBT “nhất
là thơ mới, không theo bất cứ một bó buộc, nguyên tắc gì” thì đúng là một phát
biểu kiểu “điếc không sợ súng”. Cô chỉ cần tìm đọc kỹ vài bài thơ mới thì sẽ nhận
ra là mình ngây ngô đến cỡ nào.
4/
Nguyễn Bích Thủy:
“người đọc thơ cũng chả ai
được học và cần học Thi pháp, thích thì đọc; đọc xong thì bảo hay, khá hay,
chưa hay hoặc dở, quá dở, thế thôi!”
Phạm Đức
Nhì:
Những người đã lỡ yêu thích
thơ, nếu có cơ hội, đều muốn tìm học để nâng cao trình độ hiểu biết, trình độ
thưởng thức thơ của mình. Trong những lúc họp mặt bạn bè, đám tiệc, nói chung
là trà dư tửu hậu, có nói đến bài thơ tình này, bài thơ thế sự kia thì cũng biết
đôi điều góp chuyện. Chứ cứ như cô NBT “thích thì đọc; đọc xong thì bảo hay,
khá hay, chưa hay hoặc dở, quá dở, thế thôi!” lỡ nguời ta hỏi “Hay ở chỗ nào? Tại
sao hay? Dở ở chỗ nào? Tại sao dở” lại ngớ mặt ra im lặng thì ngượng chết.
Thưởng thức thơ có nhiều
trình độ. Muốn nâng cao trình độ của mình không gì bằng tìm hiểu thi pháp. Chữ
thì hơi cao siêu nhưng nghĩa thì lại đơn giản – chỉ là kỹ thuật thơ hoặc hình
thức, vóc dáng của bài thơ.
Tôi nhớ hình như đã viết ở
đâu đó:
Có tý hiểu biết về kỹ thuật,
các tiêu chí để thẩm định giá trị thi ca, người đọc sẽ không còn ù ù cạc cạc
khi đọc, khi nghe hoặc ngâm nga những vần thơ ưa thích mà sẽ tự tin hơn, sảng
khoái hơn thả hồn vào dòng thơ. Đọc thơ bằng trí sẽ không thấy được hơi nóng cảm
xúc, sẽ không cảm được cái hay trọn vẹn của thơ, không “bắt” được hồn thơ (nếu
có). Còn nếu chỉ đọc thơ bằng hồn, không có sự soi sáng của kiến thức thì một
là, có khi gặp tuyệt tác thi ca thì lại dè bỉu, chê bai, hai là, suốt đời “tự
sướng”, sướng mà không biết vì sao mình sướng, miệng ngâm nga những vần thơ “cả
đẩn” mà mắt cứ sáng long lanh, mặt cứ rạng rỡ như đóa hoa xuân. Đó là cái sướng
của những kẻ “ngây ngô hưởng thái bình” rất tội nghiệp, rất đáng thương.
Trong quân đội người ta
thường nói “Nhìn quân phục biết tư cách”. Thi pháp quan trọng đến mức trong
thơ, theo tôi, câu tương tự sẽ là: “Nhìn thi pháp biết đẳng cấp của thi sĩ”
5/
Nguyễn Bích Thủy:
Vài ý kiến riêng của một
người ngoại đạo. Ai thích thì like, ai không thích cứ việc ném đá, tôi ở xa, đá
không đến tận nơi.
Phạm Đức
Nhì:
Cô NBT đừng lo. Trong
tranh luận văn chương, nếu cứ nhắm vào đối tượng tranh luận (là văn chương) mà
bàn cãi thì dù đúng hay sai cũng được độc giả hoan nghênh, vì bất cứ cuộc tranh
luận văn chương lành mạnh nào cuối cùng cũng đem lợi ích đến cho văn chương,
cho độc giả và cho cả đôi bên tranh luận. Miễn là đừng nhắm vào “chủ thể đối luận”
mà phang, mà bửa – nghĩa là đừng chơi trò bỏ bóng đá người. Chơi kiểu đó thì dù
ở Bỉ hay chui vào hang sâu hố thẳm nào đó ở Thái Bình Dương người ta vẫn ném
đá. Và đã ném là trúng đích.
Kết Luận
Qua bài viết Vài Ý Kiến
Quanh Việc Mổ Xẻ Bài Thơ “Quê Nghèo” Của Đặng Xuân Xuyến cô Nguyễn Bích Thủy đã
bộc lộ khá rõ một điều. Những gì cô cảm nhận - về mặt tình - rất chính xác và
sâu sắc, chứng tỏ cô có một tâm hồn nhạy bén và có nhiều trải nghiệm về mặt
tình cảm trong cuộc sống.
Nhưng những phát biểu của
cô liên quan đến mặt lý - ở đây là sự hiểu biết về thơ – thì lại mắc nhiều sai
sót. Chỉ cần có thêm chút ít nội lực ở phần này những “góp ý” của cô không những
sẽ được độc giả đặc biệt hoan nghênh mà, đối với thơ, lại còn là những đóng góp
rất hữu ích nữa.
Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com
CHÚ THÍCH:
1/
Góp ý riêng với tác giả về
một câu thơ:
Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ
Tiểu thuyết “Sống mòn” đề
cập đến một vấn đề nhức nhối của người trí thức trong thời đại cũ, những văn
nghệ sĩ nhiều khao khát, giàu lý tưởng nhưng cuộc sống cứ mòn dần, lụi dần bởi
mối lo cơm áo. Giáo Thứ trong tác phẩm “cũng mang tiếng ông giáo với bà giáo,
quần áo là, sơ mi trắng, thắt ca vát, giầy tân thời, thứ Năm, Chủ Nhật diện ngất,
tưởng mà mỡ lắm, thế mà kì thực bụng chứa đầy rau muống luộc”. Chứ Giáo Thứ có
oan khiên gì đâu?
Tôi nghĩ có lẽ đúng nên
là: “Tiếng oan khiên từ thời anh Pha”
Anh Pha trong “Bước đường
cùng” của Nguyễn Công Hoan, một nông dân nghèo khổ, sống thật thà, chân chất
nhưng lại không tránh khỏi “tai bay vạ gió” từ những con người tưởng như cũng bần
cùng như anh nhưng vẫn thiếu mất sự cảm thông và cái tình, cái nghĩa như Trương
Thi rồi đến bọn thống trị hách dịch bạo tàn, ra sức cướp bóc tô thuế, không ngần
ngại tra tấn những người nông dân cùng khổ như tên địa chủ Nghị Lại và bọn Quan
huyện, lính lệ không ngừng tìm mọi cách vơ vét người nông dân đến khánh kiệt và
đưa anh Pha đến bước đường cùng. (Nguyễn Bàng)
Trên đây là “góp
ý riêng” với tác giả của nhà bình thơ Nguyễn Bàng.
Ông Nguyễn Bàng đã vạch ra
rất tinh tế và phân tích chính xác việc anh ĐXX đã dùng không đúng từ “oan
khiên” trong bài thơ của mình. Nhưng cách ông Nguyễn Bàng góp ý phê bình thì,
theo tôi, lại có cái gì đó không được “thẳng thắn” lắm.
Trong bài bình ông đã khen
bài thơ đủ điều nhưng có từ (oan khiên) dùng sai thì lại không chê thẳng thắn ở
đó (hoặc email riêng cho anh ĐXX để sửa chữa) mà lại “nói nhỏ” cho anh nghe ở
phần ghi chú ở cuối bài. Tôi có cảm tưởng đang bàn chuyện Quê Nghèo trước một
đám đông bạn bè yêu thơ ông NB bấm anh ĐXX ra một chỗ kín để - một cách tế nhị
- phân tích khuyết điểm “oan khiên” cho anh nghe.
Có điều ông lại nói vào
micro nên không những bạn bè mà cả làng trên xóm dưới đều nghe hết. Tôi không
nghĩ là ông “thâm”, nhưng tế nhị, kheo léo quá mức đã trở thành kiểu cách, giả
tạo . Mà tại sao phải làm thế nhỉ?
Comments
Post a Comment