CẢM NHẬN THƠ HAY BÌNH THƠ?
Dựa Vào Đâu Để Biết Bài Thơ Hay Hoặc Dở?
Cảm nhận thơ hay bình thơ là hai phương cách thường được sử dụng để tìm hiểu xem bài thơ hay hoặc dở? Hay dở tới mức nào? Nói văn vẻ một tý là thẩm định giá trị nghệ thuật của bài thơ.
Để thực hiện công việc này ở Mỹ giới phê bình trường lớp đã đưa ra một số (khá nhiều) những câu hỏi gợi ý (mà tôi tạm gọi là Tiêu Chí) để “cho điểm” bài thơ.
Qua những trải nghiệm của cuộc đời chơi thơ - từ học thơ, thưởng thức thơ, làm thơ, bình thơ, diễn đọc thơ, nghiên cứu lý thuyết thơ - của riêng mình, cộng với những câu hỏi gợi ý từ giới phê bình thơ của Mỹ, tôi đã gom góp được một số khá lớn những tiêu chí để dựa vào đó bình những bài thơ mà mình yêu thích. Sau này thấy có nhiều tiêu chí rất ít được dùng nên tôi đã thu gọn lại ở con số trên duới 20.
Trong số trên dưới 20 tiêu chí này có khoảng hơn một nửa do tôi đặt ra coi như là những phương tiện để tìm hồn thơ trong thơ Việt Nam, điều mà tôi nhận thấy ít được đề cập trong cách bình thơ của Mỹ.
Dưới đây tôi tạm liệt kê 20 tiêu chí thường dùng:
Tứ Thơ
Ngôn Ngữ, Hình Tượng:
Câu Cú
Biện Pháp Tu Từ:
Thể Thơ
a/ Phân mảnh đứt đoạn
b/ Nhất khí liền mạch
Dòng Tứ Thơ
a/ Thông thoáng
b/ Có mô gò cản đường
Chức Năng Truyền Thông
Tựa Đề
Kết Luận
Bố Cục, Thế Trận
Vần
a/ Thiếu ngọt
b/ Vừa ngọt
c/ Quá ngọt: Hội chứng nhàm chán vần
d/ Đặc biệt: Quá ngọt nhưng không nhàm chán
Âm Điệu
Dòng Âm Điệu
a/ Thiếu ngọt: Trúc trắc, khô cứng
b/ Vừa ngọt: Dòng âm điệu (cũng là dòng nhạc) thông thoáng, du dương, nối kết các con chữ, các câu, đoạn, ý tứ chặt chẽ.
c/ Quá ngọt: Đọc lên gây cảm giác ầu ơ nhàm chán
d/ Đặc biệt: Quá ngọt nhưng không nhàm chán - các con chữ, câu cú được nối kết chặt chẽ, làm nổi bật ý tứ, tâm tình của tác giả. Những đoạn thơ có "vần đặc biệt" này sẽ thấm vào tâm hồn người đọc dễ dàng.
Nhịp Điệu
a/ Số chữ trong câu cố định, không đổi: bài thơ sẽ có nhịp điệu đều đều, tẻ nhạt.
b/ Số chữ trong câu thay đổi: Biên độ thay đổi càng rộng cảm giác đều đều, tẻ nhạt sẽ dần dần chuyển thành uyển chuyển, sinh động. Thêm nữa, cảm giác uyển chuyển, sinh động cũng có thể giảm bớt hoặc hóa giải "hội chứng nhàm chán vần".
Độ Dài Của Bài Thơ
Tâm Thế Của Thi Sĩ Lúc Làm Thơ
a/ Reason with them: Nói lý lẽ với người đọc
b/ Share feelings with them: Chia sẻ cảm xúc với người đọc
c/ Get it off your chest: Tống nó ra khỏi ngưc
Dòng Cảm Xúc
Cảm Xúc Tầng 1 (Đến từ câu chữ):
Cảm Xúc Tầng 2 (Đến từ bố cục, thế trận):
Cảm Xúc Tầng 3 (Hồn thơ): Nằm giữa hai hàng kẻ, không thể nhận biết bằng lý trí mà chỉ có thể cảm bằng tâm hồn.
Và sau cùng là
Nhận Xét Tổng Thể
Phần lớn thơ được bình thì 20 tiêu chí này cũng thoải mái ăn chơi, nhưng thỉnh thoảng có bài thơ "đặc biệt" phải dùng đến vài tiêu chí không có trong bảng liệt kê trên.
Sau đây là một bài Cảm Nhận Thơ làm thí dụ:
CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA: MỘT VÀI CẢM NHẬN
Chăn Trâu Đốt Lửa
Chăn trâu đốt lửa trên đồng
Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều
Mải mê đuổi một con diều
Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.
(Đồng Đức Bốn)
Bài thơ ngắn nhưng tứ thơ rất hay: Mê thả diều để củ khoai nướng - có thể là bữa ăn đạm bạc của trẻ chăn trâu - cháy thành tro. Ngụ ý của tác giả là: Nhiều khi chạy theo những cái viển vông, bay cao tít trên trời mà quên đi những thứ thiết thực, gắn bó với cuộc sống, ngay trên mặt đất. Nhưng cũng chẳng có gì nuối tiếc vì những thứ viển vông, cao tít đó chính là thức ăn cho tinh thần, cho phần hồn của con người; đó chính là niềm vui, hạnh phúc mà vật chất không thể tạo ra được.
Tứ thơ đã hay mà phếp ẩn dụ cũng rất dễ cảm, dễ thương, chứng tỏ tác giả có cái nhìn về cuộc sống rất phóng khoáng nhưng không kém phần sâu sắc. Tôi thích bài thơ một phần vì tác giả đã chọn được tứ thơ bình dị mà lại độc đáo, phần khác là vì có dính dáng đến chút riêng tư.
Số là cũng như thi sĩ Đồng Đức Bốn, tôi rất thích và cũng võ vẽ làm thơ – cái thú tiêu khiển mà vợ tôi cho là “trò chơi vô bổ.” Bà ấy còn mạnh miệng nói: “Nhà thơ như ông lúc nào hồn cũng vơ vẩn trên mây; thỉnh thoảng cũng nên hạ chân xuống mặt đất để phụ giúp tôi kiếm thêm đồng tiền, bát gạo cho gia đình chứ.”
Tôi nhìn quanh thì quả thật đại đa số thi sĩ Việt Nam làm thơ là vì cái “nghiệp”, cái thú, cái đam mê của họ chứ ít ai có thể dựa vào mấy câu thơ để tự nuôi sống mình chứ đừng nói gì đến nuôi vợ nuôi con (ngoại trừ một số “nhà thơ cung đình” làm thơ phục vụ chế độ, và dĩ nhiên, một vài thi sĩ thiên tài.) Nhưng cái thú, cái nỗi đam mê ấy cứ đẩy tôi vào vòng tay của nàng thơ.
Mỗi ngày, mỗi tuần, sau thời gian trả nợ quỷ thần cho miếng cơm manh áo, hồn tôi lại theo tiếng gọi của thơ bay lên chín tầng mây. Mặc kệ cuộc đời. Mặc kệ mụ vợ sống thực tế, chân lúc nào cũng chạm đất. Tôi bay lên cao ôm lấy nàng thơ, ôm lấy hạnh phúc đích thực của mình. Nếu thi sĩ Đồng Đức Bốn còn sống, hy vọng ông sẽ không chê trách chút tâm tình này.
Sau đây là một chút khuyết điểm của bài thơ.
Như đã giới thiệu và phân tích ở phần trên, thi sĩ của chúng ta đã chọn được tứ thơ hay, bây giờ xin mời độc giả (cùng tôi) thưởng thức cách tổ chức thế trận chữ nghĩa của ông. Đạo quân chính trong trận Chăn Trâu Đốt Lửa - hồn cốt của bài thơ (tứ thơ) - nằm trong 2 câu cuối:
Mải mê đuổi một con diều
Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.
Hai câu đầu là phần dẫn nhập, cái cớ để tứ thơ xuất hiện, làm nhiệm vụ yểm trợ:
Chăn trâu đốt lửa trên đồng
Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều.
Trong bài Lục Bát Và Chăn Trâu Đốt Lửa ông Nguyễn Lâm Cúc đã viết:
Khung cảnh trong bài thơ là cánh đồng miền Bắc, nơi mà dù vụ gặt vừa mới xong rạ rơm cũng không còn lại bao nhiêu, vì suốt cả một vùng đồng bằng dọc theo châu thổ sông Hồng, người nông dân quí rạ không khác gì sản phẩm khác. Họ tận thu rơm rạ để làm thức ăn cho trâu, bò; để đun nấu, để làm vách đất nữa. Vì vậy, cánh đồng sau vụ gặt mùa Đông chỉ còn rất nhiều gió và cái lạnh thấu xương.
http://nguyenlamcuc.vnweblogs.com/print/2509/129996
Trong bài “Chăn Trâu Đốt Lửa”: Sâu Sắc Một Triết Lý Nhân Sinh nhà phê bình Đức Thọ cũng đề cập đến sự hiếm hoi của rơm rạ sau vụ gặt Đông:
Câu thơ thứ hai nhà thơ khẳng định “Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều”. Đúng vậy, trong mùa hanh heo mà đã gió đông thì khi thổi cháy bao nhiêu rơm rạ cho vừa.
http://lucbat.com/news.php?id=3470
Trong đầu tôi tức khắc hiện ra câu hỏi: Trong hoàn cảnh đó làm sao có đủ than lửa để củ khoai cháy thành tro được?
Tôi có điện thoại hỏi một ông chú họ xa ở ngoại thành Hà Nội thì được cho biết: Nếu chịu khó kiếm cành khô, củi mục ở nơi khác gom lại thì với chút ít rơm rạ còn sót ở cánh đồng cũng có thể tạo được “bếp lửa” để nướng khoai nhưng phải chăm chút, che chắn cẩn thận, chứ như thi sĩ của chúng ta “Mải mê đuổi một con diều” thì chỉ chốc lát là rơm rạ đã bay tung tóe, lửa tắt, củ khoai chưa chắc đã chín chứ làm gì có cái cảnh “Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.”
Mà dù - cứ cho là với cái tài gầy bếp đặc biệt của trẻ chăn trâu - củ khoai nướng đã thực sự thành tro thì theo tôi, câu thơ “Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều” cũng đã “đi ngược đường” với tứ thơ.
Trong quân đội đôi khi có những người lính “vô tích sự”, cháu của ông Bộ Trưởng này, con của ông Tổng Cục kia, có mặt ở Bộ Chỉ Huy, Bộ Tư Lệnh chỉ để làm vì, để bảo vệ “chữ Thọ”, để khỏi phải lao vào chỗ sống chết nơi trận địa. Khi đụng chuyện chẳng những không giúp ích được gì cho đơn vị mà có khi còn vướng chân, vướng tay những người lính khác trong việc hoàn thành nhiệm vụ của họ. Đặc biệt hơn, còn có những người lính làm nội gián cho địch để cản trở, để phá hoại việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.
Trong thơ, tôi đã gặp khá nhiều những câu thơ “vô tích sự”. Có lẽ tôi sẽ đề cập đến những câu thơ “thừa” này vào một dịp khác. Riêng trường hợp Chăn Trâu Đốt Lửa thì “Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều” chính là câu thơ nội gián. Không những nó không giúp làm tăng độ khả tín, sức thuyết phục của tứ thơ mà ngược lại, đã trở thành một chướng ngại vật ngăn cản hành trình qua đó độc giả tiếp cận tứ thơ để rồi đi đến chỗ đồng cảm với tác giả.
Tạo ra và dung dưỡng một câu thơ nội gián, theo tôi, là một lỗi nặng của thi sĩ. Tùy mức độ khắt khe của độc giả, bài thơ có thể bị đánh giá là hỏng, giảm giá trị nghệ thuật hoặc chí ít cũng là không được hay đẹp trọn vẹn.
Với tôi, Chăn Trâu Đốt Lửa là một bài thơ hay; tứ thơ là một triết lý sống lãng mạn, cao đẹp, Nếu không có cái câu thơ nội gián ấy, bài thơ chắc đã được đặt vào một vị trí trang trọng hơn rất nhiều.
Galveston 08/2015
Phạm Đức Nhì
Một số bạn yêu cầu tôi bình vài bài thơ của Mỹ. Tôi đang tra cứu để bình một bài thơ nổi tiếng của một nữ sĩ tài năng.
Để các bạn yêu thơ Việt Nam quen dần với việc hiểu nghĩa và “bắt” ý tứ của một bài thơ ngoại quốc, tôi xin giới thiệu một bài thơ tình ngắn có tựa The Look (Cái Nhìn) của Sara Teasdale.
THE LOOK
by Sara Teasdale
Strephon kissed me in the spring, (7)
Robin in the fall, (5)
But Colin only looked at me (8)
And never kissed at all. (6)
Strephon's kiss was lost in jest, (7)
Robin's lost in play, (5)
But the kiss in Colin's eyes (7)
Haunts me night and day. (5)
Dịch sát nghĩa:
CÁI NHÌN
Strephon hôn tôi vào mùa xuân
Robin vào mùa thu
Nhưng Colin chỉ nhìn tôi
Và không bao giờ hôn
Nụ hôn của Strephon lạc mất trong câu nói đùa
Của Robin lạc mất trong cuộc chơi
Nhưng nụ hôn trong mắt Colin
Đêm ngày ám ảnh tôi.
Phân Tích Kỹ Thuật Thơ
1/ Kiếm Tông: Viết theo lối Kiếm Tông, chú trọng nét đẹp của câu chữ, cách dàn ý. Chữ lý lấn át chữ tình.
2/ Thể Thơ: Giống Thơ Mới (trường thiên) của Việt Nam – 2 đoạn, mỗi đoạn 4 câu.
9/ Số "Âm Tiết" Trong Câu: Không cứng ngắc mà uyển chuyển thay đổi, Câu ngắn nhất 5 âm tiết, câu dài nhất 8 âm tiết. (Tiếng Anh đa âm nên mỗi chữ có khi nhiều hơn một âm tiết)
3/ Tứ Thơ: Cái nhìn từ đôi mắt say đắm tạo nỗi nhớ thương sâu đậm hơn những nụ hôn.
4/ Ngôn Ngữ, Câu Cú: Ngôn ngữ đơn giản, rõ ràng, chắt lọc; câu cú ngắn gọn, đúng ngữ pháp, dễ hiểu.
5/ Dòng Chảy Tứ Thơ: Đoạn trước và đoạn sau nối kết với nhau bằng liên hệ "nhân quả" nên có thể nói tứ thơ có dòng chảy do mối tương quan đặc biệt này.
6/ Tựa Đề: Theo định nghĩa thì "Tựa Đề là chữ hoặc nhóm chữ nói lên cốt tủy của bài thơ".
Tác giả đặt Tựa Đề là "Cái Nhìn" rất chính xác.
7/ Kết Luận: Tóm kết cốt tủy của toàn bài sau khi đã thổ lộ những trải nghiệm của mình qua tứ thơ.
Câu "Nhưng nụ hôn trong mắt Colin đêm ngày ám ảnh tôi" là một kết luận sáng giá.
8/ Bố Cục, Thế Trận: Đoạn đầu nối với đoạn cuối bằng mối quan hệ nhân quả - dính líu đến thủ pháp Show, Don't Tell - mạch lý luận có tính thuyết phục cao. Bài thơ có thế trận hợp lý, hiệu quả.
7/ Vần: Tác giả gieo vần gián cách, ở câu 2 và câu 4 mỗi đoạn. (fall all, play day) nên độ gắn kết câu chữ, ý tứ lỏng lẻo
8/ Dòng Âm Điệu: Vần không nối kết liên tục nên không có dòng âm điệu.
9/ Nhịp Điệu: Do số âm tiết trong câu thay đổi nên nhịp điệu sinh động chứ không đều đều, tẻ nhạt.
10/ Độ Dài Của Bài Thơ: Bài thơ thuộc loại ngắn, chỉ có 8 câu, 50 âm tiết.
11/ Tâm Thế: Tác giả viết trong lúc tâm ít xao động, có thể nói là tỉnh táo, lý trí điều khiển cuộc chơi.
12/ Dòng Cảm Xúc: Không có dòng âm điệu, bài thơ ngắn, tác giả lại ở trong tâm thế tỉnh táo nên bài thơ không có dòng cảm xúc.
10/ Cảm Xúc:
a/ Cảm xúc tầng 1 (đến từ câu chữ): Mạnh
b/ Cảm xúc tầng 2 (đến từ bố cục, thế trận): Liên hệ nhân quả hợp lý nên cảm xúc tầng 2 cũng mạnh.
3/ Cảm xúc tầng 3: Tác giả làm thơ với tâm thế tỉnh táo, lý trí điều khiển mọi thứ nên không có cảm xúc tầng 3, nghĩa là không có hồn thơ.
Phạm Đức Nhì
CÁI NỀN KỸ THUẬT CỦA BÀI THƠ ĐÚNG HƯỚNG
Đúng Hướng: “Hướng thẳng đến Bến Bờ Thi Ca, không sai lệch”.
Bến Bờ Thi Ca: Nơi tụ hội những bài thơ có Hồn Thơ Lai Láng; ở đó Thi
Sĩ đã bộc lộ tâm trạng, tiếng lòng của mình Hoàn Toàn Chân Thật.
Bài thơ đúng hướng
chưa đến Bến Bờ Thi Ca nhưng đã có Hồn ở
tầng bậc thấp hơn Hồn Thơ Lai Láng. Nếu một số điểm trong “cái nền kỹ thuật” được
hoàn thiện bài thơ có thể có Hồn ở tầng bậc cao hơn và đến gần Bến Bờ Thi Ca
hơn
Một Chút Giải Thích Dẫn Đường
Trước đây thơ là một loại văn vần chú trọng nét đẹp văn chương. Những bài thơ có ý tưởng cao đẹp, khai phóng, ngôn từ hình tượng đắc địa, đẹp một cách đài các cao sang (hoặc bình dân, chân quê như thơ Nguyễn Bính), câu cú chắc gọn, rõ nghĩa … đều được đánh giá cao.
Sau này một số triết gia
Phương Tây khám phá ra rằng: Con người (có cả Thi Sĩ) đều Xạo. Ngoài các kiểu Xạo
“dối trá đời thường” còn có kiểu Xạo “bị tiêm nhiễm cung cách ứng xử lịch sự,
văn minh của xã hội”, lâu ngày chày tháng chữ Xạo đó ăn sâu vào Vô Thức và cứ
thế bí mật lèo lái suy nghĩ, lời nói và hành động của con người.
Các kiểu Xạo “dối trá đời
thường” có thể biến mất hoặc giảm thiểu khi Nhân Cách được nâng cao, nhưng kiểu
Xạo dính với Vô Thức, theo các triết gia Phương Tây thì gần như là “vô phương
hóa giải”.
Jean Paul Sartre thì la
toáng lên: “Con người đang trở thành một Kẻ Vong Thân (đánh mất chính mình)”
Albert Camus thì cho rằng
“Con người đang bị một Kẻ Xa Lạ xâm nhập và chiếm hữu thân xác mình”
Vì nhận ra nguyên nhân của chữ Xạo là lý trí nên Chủ Nghĩa Siêu Thực và Chủ Nghĩa Tượng Trưng đã "xắn tay áo" diệt Xạo bằng cách loại bỏ lý trí trong thơ. Nhưng cả hai đều thất bại.
Xin đọc chi tiết nỗ lực diệt Xạo này theo link sau đây:
https://lythuyetthoabc.blogspot.com/2023/05/ban-ve-chu-xao-trong-tho.html
Những Thi Sĩ Việt Nam Diệt Xạo
Để Hồn Thơ có thể xuất hiện
và rồi tăng cường độ đến mức cực mạnh thành Hồn Thơ Lai Láng, thi pháp bài thơ
phải có một số điều kiện sau đây:
1/ Thể Thơ Nhất
Khí Liền Mạch
Tứ thơ, những mảnh tâm
tình của thi sĩ, được nối kết với nhau liền lạc chảy thành dòng liên tục từ đầu
đến cuối.
2/ Ngôn Ngữ Hình
Tượng Câu Cú:
Dễ tiêu, dễ
cảm (hiểu cảm cùng một lúc), tránh mô gò
cản đường
“Hiểu” phải dùng lý trí.
“Tiêu”, “Cảm” đi thẳng vào hồn.
Nếu câu chữ, hình tượng phải
suy nghĩ lâu hoặc “ngẫm” mới hiểu được thì lý trí sẽ bước vào cản dòng chảy của
cảm xúc.
3/ Vần
Cước vận liên tiếp.
Giữ vần vừa độ ngọt để
dòng âm điệu thông thoáng, du dương. Có thể chêm vào vần gián cách hoặc đổi vần
khi chuyển ý. Tránh “hội chứng nhàm chán vần” hoặc quá ít vần khiến dòng âm điệu
lúc chảy, lúc ngừng, không thông thoáng..
4/ Nhịp Điệu
Thay đổi số chữ trong câu
(với biên độ rộng) để có nhịp điệu sinh động, uyển chuyển, lúc khoan lúc nhặt
chứ không đều đều, tẻ nhạt.
Vần và nhịp điệu là hai điểm quan trọng nhất của thi pháp. Áp dụng thường xuyên sẽ trở
thành thói quen. Nếu bài thơ dài (vài chục câu trở lên) mà đọc từ đầu đến cuối
không thấy ngán là đã thành công trong kỹ thuật sử dụng vần và nhịp điệu.
Có trong tay kỹ thuật này
thi sĩ sẽ dễ dàng tạo một dòng nhạc thông thoáng, du dương để chuyển tải tâm trạng
của mình. Nếu tứ thơ hay, tâm thế cao hứng, thi phẩm sẽ dễ có giá trị nghệ thuật
cao.
5/ Tâm Thế
a/ Reason with them: Nói lý lẽ với độc giả.
b/ Share feelings with them: Chia sẻ cảm
xúc với độc giả.
c/ Get it off your chest: Tống khứ nó ra
khỏi ngực
Đây là lối phân loại của
người Mỹ.
“Tống khứ nó ra khỏi ngực”
là tâm thế có cảm xúc mạnh nhất. Nhưng để đưa cái cảm xúc (của cơn hứng) ấy vào
thơ đâu phải dễ. Phải khởi động kể lể, dẫn giải nguồn cơn rồi khơi dòng để những
mảnh tâm sự của tứ thơ và dòng âm điệu cùng chảy. Lúc đó cảm xúc (từ cơn hứng)
mới nhập vào chảy theo.
Trình tự là như thế, nhưng
thực hiện được còn nhiều nhiêu khê trắc trở khác nữa.
Đối với thơ Việt Nam tôi
thường giữ trong mình tâm thế loài Hoa Dại rồi lựa thời cơ đưa vào trang giấy
những con chữ đầu tiên. Sau đó sử dụng kỹ thuật thơ khơi nguồn để 3 dòng nhập một
cùng chảy về “điểm đến của tứ thơ”. Để làm quen với tâm thế loài Hoa Dại xin mời
đọc link của trang web Lý Thuyết Thơ sau đây:
https://lythuyetthoabc.blogspot.com/2023/05/hoa-dai-va-tam-cua-thi-si.html
6/ Độ Dài Của
Bài Thơ
Đừng quá ngắn. Đủ dài để
có “sóng sau dồn sóng trước” tạo cao trào. (Bấm link để đọc thêm)
https://lythuyetthoabc.blogspot.com/2023/05/cho-them-cui.html
7/ Không Vờn
Bóng Giữa Sân
Không “vòng vo Tam Quốc”,
kể lể “cà kê dê ngỗng”. Loại bỏ thẳng tay thành phần ăn bám - những câu chữ thừa,
không thực sự cần thiết cho câu thơ, đoạn thơ. Mỗi câu thơ phải nhắm “điểm đến
của tứ thơ” đi tới, cũng như cầu thủ có bóng trong chân – không vờn bóng giữa
sân – mà phải nhắm cầu môn đối phương thẳng tiến.
Kết Luận
Sáng tác được thi phẩm có
Hồn Thơ Lai Láng thi sĩ đã làm sống lại “cái tôi đích thực” của mình, đã đạt được
mục đích cao cả của công việc làm thơ, đã cùng bài thơ vinh dự bước vào Bến Bờ
Thi Ca. Công lao của Ngài là đã tặng cho độc giả một món quà vô cùng quý giá:
Được giao tiếp với Ngài bằng thứ tiếng Hoàn Toàn Chân Thật của Con Người (viết
hoa).
Những bài thơ áp dụng “cái
nền kỹ thuật”, dù chưa đạt đến mức đỉnh điểm đó, cũng vẫn có Hồn - ở những cung
bậc thấp hơn – nhưng đọc cũng có cảm giác “sướng đặc biệt” mà chỉ Hồn Thơ mới
có.
TÌNH CÀNG SÂU ĐẬM CÀNG NHIỀU ĐAU THƯƠNG
Vào trang Facebook của Vân Anh, một bạn thơ quen thuộc, tôi tình cờ đọc được bài thơ Lòng Thật Bình Yên Mà Sao Buồn Thế. Cái tâm sự buồn não nuột của một cô giáo gặp cảnh tình ngang trái đã chạm vào “chỗ hiểm” nào đó trong trái tim đa cảm nên tôi đã dừng lại khá lâu. Thêm vào đó, phần thi pháp của bài thơ cũng có vài điểm đáng nói, đáng bàn nên tôi đã “xăn tay áo” viết mấy lời bình phẩm.
LÒNG THẬT BÌNH YÊN MÀ SAO BUỒN THẾ
Em kê dọn, xếp lại những nhớ nhung
Thuở tóc xanh mình đã cùng ước nguyện
Ngăn bên này, ngổn ngang bao lưu luyến
Kệ bên kia, ẩn hiện nỗi vui buồn
Đang giữa đông, trời cứ đổ mưa tuôn
Chẳng trôi hết giùm muôn vàn mỏi mệt
Giá ngày xưa người đi mang theo hết
Thì hôm nay em chẳng có cớ sầu
Nắng bây giờ hạnh phúc ở nơi nao
Hay dâu bể cũng nghẹn ngào lên mắt
Ngôi sao cuối trời xa chầm chậm tắt
Chữ nhoà rồi, lạc mất cả âm vần.
Vân Anh
P/S: Chiều chủ nhật đầu tiên 2021
Tứ Thơ
Không có ẩn dụ toàn bài nên Tứ cũng là Ý: Tác giả nhớ lại cuộc tình tan vỡ mà tê tái lòng.
Đau lòng, xé ruột vì tình tan vỡ là “chuyện thường ngày ở huyện”, xưa như trái đất. Có thể nói tứ thơ (What: Viết cái gì) không có gì đặc biệt, mới lạ. Cái nổi trội của bài thơ là ở (How: Viết thế nào) - ngôn ngữ, hình tượng, cách gieo vần, thế trận và cảm xúc.
Dàn Trải Tứ Thơ
Bài thơ có 12 câu, chia làm 3 đoạn:
1/
Em kê dọn, xếp lại những nhớ nhung
Thuở tóc xanh mình đã cùng ước nguyện
Ngăn bên này, ngổn ngang bao lưu luyến
Kệ bên kia, ẩn hiện nỗi vui buồn
Qua đoạn thơ đầu tiên thi sĩ kể lại những tháng ngày tình còn mặn nồng. Không giống những nhà thơ khác, chị cẩn thận “kê dọn, xếp lại những nhớ nhung”, những kỷ niệm của cuộc tình.
Hình tượng của hai nhóm chữ “Ngăn bên này”, “Kệ bên kia” rất rõ nét, dễ “bắt”, dễ cảm. Chúng còn làm nổi bật sự sâu đậm của mối tình mà chị trân trọng đến mức – dù đã chia xa - vẫn bỏ thời gian, công sức, chi li, tỉ mỉ sắp xếp thành ngăn, thành kệ những nhớ nhung, vui buồn lưu luyến trong tâm hồn mình.
2/
Đang giữa đông, trời cứ đổ mưa tuôn
Chẳng trôi hết giùm muôn vàn mỏi mệt
Giá ngày xưa người đi mang theo hết
Thì hôm nay em chẳng có cớ sầu
Đây là đoạn thơ than trách.
Trước hết thi sĩ trách “trời” “đổ mưa tuôn” mà “Chẳng trôi hết giùm muôn vàn mỏi mệt”. Kế đến, trách “người” ra đi mà không “mang theo hết” kỷ niệm của cuộc tình.
Thật ra, chị đã trách oan “trời” và “người ra đi”. Đúng ra chị phải trách chính mình không quên được những dấu yêu xưa.
Những lời than trách này cho thấy “nỗi đau buồn vì tình lỡ” đã thấm rất sâu vào tâm hồn, đã khiến thể xác cũng “mỏi mệt” đến mức gần như bệnh hoạn.
Rốt cuộc, nói như nhà thơ Nguyễn Bính, tất cả chỉ là:
“Thế nghĩa là yêu quá mất rồi” (1)
Mà trong quy luật tình yêu: “Tình càng sâu đậm càng nhiều đau thương”
3/
Nắng bây giờ hạnh phúc ở nơi nao
Hay dâu bể cũng nghẹn ngào lên mắt
Ngôi sao cuối trời xa chầm chậm tắt
Chữ nhòa rồi, lạc mất cả âm vần....
Đọc đoạn thơ này mới thấy thi sĩ của chúng ta rất mềm mỏng và hòa nhã. Nhân vật “đầu dây mối nhợ” của cuộc tình tan vỡ không bị gán cho những cái tên không đẹp như “kẻ bạc tình”, “tên phản bội” mà đời vẫn thường gọi. Thay vào đó, ở đoạn 2 chị gọi chàng là “người” và vẫn xưng “em” rất lễ phép, ngọt ngào; ở đoạn 3 thì chị bay bướm hơn, gọi chàng là “Nắng” và “Ngôi sao cuối trời xa”.
Chính sự mềm mỏng và hòa nhã đó đã nâng nét đẹp văn chương của bài thơ thêm một bậc.
“Nắng bây giờ hạnh phúc ở nơi nao
Hay dâu bể cũng nghẹn ngào lên mắt”
Không biết người xưa bây giờ ngập tràn hạnh phúc hay cũng đang nghẹn ngào khổ đau. Ngay cái lúc nghĩ đến “người” rồi nhìn lại hoàn cảnh của mình, nhìn lại tâm trạng của mình, cảm xúc dâng trào, chị tủi thân bật khóc.
Nước mắt hoen mi nên thấy “Ngôi sao cuối trời xa” (không phải ngoài trời mà trong tâm tưởng) đang “chầm chậm tắt” và nhìn lên màn hình điện thoại (hoặc máy tính) thấy “Chữ nhòa rồi, lạc mất cả âm vần”. Vừa lô-gic, vừa thấm đẫm chất tình.
Thể Thơ
Thơ Mới nhất khí liền mạch, tứ thơ chảy thành dòng, mỗi câu 8 chữ đều đặn.
Vần
Vần liên tiếp, 12 câu thơ, 5 cặp vần cứ đến hẹn lại lên; trong 5 cặp vần chỉ có một cặp là thông vận (sầu nao), 4 cặp còn lại (nguyện luyến, buồn tuôn, mệt hết, mắt tắt) là chính vận; ngoài ra còn thêm 5 cặp vần lưng (nhung cùng, luyến hiện, tuôn giùm, nao ngào, tắt mất).
Nhin qua về số lượng thì vần quá nhiều.
Quá nhiều vần, vị ngọt đậm, nhưng nhờ bài thơ ngắn (12 câu), tâm tình chân thật, nhiều hình tượng đẹp, dễ bắt, dễ cảm, nhiều cảm xúc nên vị ngọt đậm mà chưa đến mức ngán. Khuyết điểm bỗng trở thành ưu điểm – các câu thơ gắn kết chặt chẽ hơn, các ý nhỏ, các mảnh tâm trạng liền lạc hơn.
Dòng Âm Điệu
Nhờ vần liên tiếp, vị ngọt đậm nên - về mặt thanh âm, nhạc điệu - dòng chảy của tứ thơ, tuy không xiết, nhưng rõ nét hơn.
Đoạn Kết Hay
“Ngôi sao cuối trời xa chầm chậm tắt
Chữ nhòa rồi, lạc mất cả âm vần”
Nghĩa thì như đã giải thích ở trên - vừa lô-gic, vừa thấm đẫm chất tình. Ở đây tôi chỉ ghi thêm một điểm nhỏ. Nhỏ nhưng nếu không nhắc đến sẽ là một thiếu sót lớn.
Theo tôi, bài thơ kết ở chữ “vần” thật “siêu”. Trở về thanh huyền (vần bằng dấu huyền) làm câu thơ chùng xuống, nỗi buồn càng sâu lắng hơn.
Như vậy, hai câu thơ vừa sâu sắc về mặt ý nghĩa vừa “siêu” về mặt âm vận, tạo thành đoạn kết tuyệt vời.
Thế Trận
Tâm trạng được bộc lộ từ từ, chậm rãi. Đoạn đầu còn kể lể chuyện ngày xưa. Đến đoạn thứ hai, ngày xưa đã chuyển sang hiện tại. Và ở đoạn cuối thì những nhóm chữ chỉ hiện tại “Đang giữa đông”, “hôm nay” - hàm chứa một khoảng thời gian đáng kể - đã chuyển sang “bây giờ” - chỉ là một giây, một cái chớp mắt ngắn ngủi.
Nỗi đau buồn không còn trải dài theo thời gian mà thời gian bỗng hình như dừng lại để ở ngay giây phút dừng lại ấy tất cả nỗi buồn đau đổ ập xuống tâm hồn thi sĩ. Giây phút ấy chính là giây phút mà:
“Ngôi sao cuối trời xa chầm chậm tắt
Chữ nhòa rồi, lạc mất cả âm vần”
Bài thơ kết thúc ở cao trào với thế trận hợp lý.
Cảm Xúc
1/ Cảm Xúc Tầng 1: Ngôn ngữ đẹp, hình tượng độc đáo, câu thơ dễ bắt nên cảm xúc tầng 1 mạnh
2/ Cảm Xúc tầng 2: Thế trận liền lạc, gọn gàng, đoạn kết hay nên cảm xúc tầng 2 cũng mạnh.
3/ Cảm Xúc Tầng 3: Bắt đầu từ đoạn hai cảm xúc tầng 3 (tức hồn thơ) đã nhẹ nhàng xuất hiện. Người đọc như tôi đã cảm thấy một luồng hơi ấm đang len lỏi trong người. Nhưng do dòng chảy của tứ thơ chưa đủ xiết, dù bài thơ kết thúc ở cao trào, luồng hơi ấm đó chưa đủ nóng, đủ mạnh nên hồn thơ chỉ nhẹ nhàng, thoang thoảng.
Khuyết Điểm
Số Chữ Trong Câu: Tác giả tôn trọng luật thơ cứng ngắc quá. Câu nào cũng đúng 8 chữ. Bài thơ âm điệu du dương nhưng nhịp điệu tẻ nhạt. (2)
Tựa Đề Có Phải Là Khuyết Điểm?
Tựa đề của bài thơ là Lòng Thật Bình Yên Mà Sao Buồn Thế. Mới đọc qua tôi đã đưa vào phần khuyết điểm với nhận xét như sau:
Tựa Đề: Cái tựa của bài thơ hơi tréo ngoe. Nỗi buồn đau sâu sắc đến thế mà viết là “Lòng Thật Bình Yên” thì quả là hơi bị liều.
Chê như vậy thoạt nhìn không thấy sai. Nhưng ngẫm lại thì có cái gì đó không ổn.
Vân Anh đặt cái tựa Lòng Thật Bình Yên Mà Sao Buồn Thế tưởng là tréo ngoe nhưng nghĩ kỹ thì cũng có lý.
Tâm hồn chị lúc đó đang ngập tràn nỗi đau tình tan vỡ, không còn chỗ để chứa những thứ khác. “Bình Yên” ở đây được hiểu là không còn bị khuấy động bởi những vướng bận tạp nhạp của cuộc sống thường ngày. Thi sĩ cứ lặng lẽ, thoải mái, từ từ tận hưởng “thú đau thương”.
Chính vì thế tôi đã loại nó khỏi mục khuyết điểm, nhưng không xem là ưu điểm, vì cảm giác tréo ngoe vẫn còn lởn vởn.
Tóm Tắt Giá Trị Của Bài Thơ
Lòng Thật Bình Yên Mà Sao Buồn Thế của Vân Anh là một bài thơ hay mặc dù tứ thơ bình thường, không đặc biệt hoặc mới lạ. Cái hay của bài thơ nằm ở ngôn ngữ, hình tượng, cách nói bóng gió, “Show, Don’t Tell”, cấu tứ (bố cục, thế trận của bài thơ) và đặc biệt là cảm xúc. Cảm xúc tầng 1 và tầng 2 đều mạnh. Cảm xúc tầng 3, thứ cảm xúc cao cấp nhất, tức hồn thơ, đã xuất hiện nhưng rất tiếc, chỉ ở mức nhẹ nhàng, thoang thoảng.
Khuyết điểm của bài thơ là nhịp điệu tẻ nhạt.
KẾT LUẬN
Chỉ với hình hài như vậy, Lòng Thật Bình Yên Mà Sao Buồn Thế đã có “chỗ đứng” khá trang trọng trong Vườn Thơ. Nhưng tôi vẫn thấy tiếc. Tác giả sở hữu một số kỹ thuật thơ nhuần nhuyễn, cảm xúc trong lúc cao hứng dâng trào. Chỉ cần số chữ trong câu uyển chuyển thay đổi, tránh được cảm giác tẻ nhạt và bài thơ dài thêm vài đoạn nữa để dòng chảy của tứ thơ có sóng sau dồn sóng trước, cảm xúc tầng 3 sẽ đủ mạnh để đưa hồn thơ lên tầm mức cao hơn. Bài thơ sẽ có cơ hội bước vào Bến Bờ Thơ Ca.
Nhưng Vân Anh vẫn còn rất trẻ. Những người yêu thơ, trong đó có tôi, sẽ kiên nhẫn đón chờ bài thơ để đời của chị.
Phạm Đức Nhì
CHÚ THÍCH:
1/ Ghen, Nguyễn Bính, thinien.net
https://www.thivien.net/Nguy%E1%BB%85n-B%C3%ADnh/Ghen/poem-LRFnC3C9FSUau9X5dvShgw
2/ Trong bài thơ NHÂN TÌNH CỦA NHỮNG ÁNG VĂN XANH Vân Anh đã có mấy đoạn có số chữ trong câu thay đổi một cách thoải mái, phóng khoáng:
Anh trải rộng
những cánh đồng mướt xanh
em ngửa mặt hít hà hương lúa mới
anh tuôn chảy dòng sông diệu vợi
thuyền em trôi thênh thang
…………………………….
Câu chữ vấn vương
âm vần lưu luyến
và từ giờ em nguyện
làm nhân tình của những áng văn xanh.
Cách viết này, nếu vần liên tiếp, tứ thơ vẫn có dòng chảy - và dù bài thơ hơi dài một chút - cũng vẫn tránh được 2 khuyết điểm: a/ hội chứng nhàm chán vần và b/ nhịp điệu tẻ nhạt (monotone)
Không hiểu sao khi viết Lòng Thật Bình Yên Mà Sao Buồn Thế chị lại quên không sử dụng “chiêu thức” này.
Nhận Xét Đặc Biệt
Theo chút kinh nghiệm đọc thơ, làm thơ và bình thơ tôi nhận thấy bài thơ có độ dài 12 câu (96 chữ) mà đã có hồn thơ ở mức nhẹ nhàng thoang thoảng đã có thể xếp vào loại "quý hiếm".
Được như thế là do Cái Nền Kỹ Thuật Của Bài Thơ Đúng Hướng của chị
Kế tiếp là một bài bình thơ bài bản theo kiểu trường lớp, tiếp cận toàn diện bài thơ.
“SAY ĐI EM” MỘT BÀI THƠ “TỚI BẾN”
Quen Biết Bài Thơ Đã Lâu
Tôi không nhớ đã “quen biết” bài thơ Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương ở đâu và khi nào. Nhưng trong danh sách những bài thơ hay để giới thiệu với độc giả thì nó đứng đầu. Đọc để cảm thì sao cũng được – đó là “cái riêng” của mỗi người khi đọc thơ, những người khác ít ai dám xía vào.
Nhưng bình thơ thì phải có khen chê – phải có một quan niệm về thơ để làm chỗ dựa cho sự khen chê đó. Mỗi lời khen, tiếng chê đều phải có lập luận để giải thích, và nếu bị phản bác, để bảo vệ nó.
Say Đi Em là bài thơ khó bình. Tôi đã “ngâm” nó trong kho từ vài năm trước. Mỗi lần mở ra đọc lại thấy ơn ớn. Chỗ mình muốn khen hết lời thì lại có một cây đại thụ về phê bình văn học (Vũ Ngọc Phan) (1) dè bỉu, chê bai. Một số điểm hay khác của bài thơ thì lại … hơi lạ, không biết mình nêu lên có gây sóng gió, bão táp gì không?
Nói vậy để độc giả thông cảm chứ tôi đã ăn ngủ với Say Đi Em cả mấy tháng nay rồi. Đã thuộc, đã nghiền ngẫm từng chữ nên khi viết lời bình cũng có đôi chút tự tin. Tuy nhiên, cái hay, cái đẹp (và cả cái dở) của thơ thì mênh mông như biển cả. Nếu bài viết này có gì sai sót, rất vui vẻ đón nhận mọi phê bình, góp ý.
SAY ĐI EM
1/
Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương…
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo?
Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ
2/
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần…
Bốn tường nghiêng điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta
Cổ chưa khô đầu chưa nặng mắt chưa hoa
Tay mềm mại bước còn chưa chuếnh choáng
Chưa cuối xứ Mê Ly chưa cùng trời Phóng Đãng
Còn chưa say hồn khát vẫn thèm men
3/
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt!
Rượu, rượu nữa! Và quên, quên hết!
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi…
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
4/
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
(Vũ Hoàng Chương)
“Em” Trong Bài Thơ Là Ai?
Theo tôi, câu hỏi đó đã được trả lời một cách kín đáo ở đoạn đầu bài thơ.
Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Tác giả nói đến vũ trường, nhạc dập dìu quanh các nàng ca ve son phấn.
Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương
Hoa xưa tươi, trăng xưa đẹp, gối xưa kề, tình nay sao héo?
Gặp người quen, cũng là dân “sương gió”; nàng là gái nhảy, chàng là khách làng chơi mê khiêu vũ, xưa đã có một thời mặn nồng, sau đó vì “đầu xanh lận đận” nên nay tình đã héo. Cụm từ “gối xưa kề” đã bóng gió nói đến thời mặn nồng đó.
Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Nay tình không còn mặn nồng nữa nhưng vẫn còn khoái món khiêu vũ. Cụm từ “Lòng trót nghiêng” hơi trừu tượng; vừa muốn giải thích lại vừa muốn đưa vào 2 câu lục bát cho ngọt dòng thơ nên ông viết tiếp:
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ
Lòng đã hết thương nhưng chân còn mê nhảy.
Tóm lại, đoạn đầu có thể hiểu như sau: Vào vũ trường nhảy nhót, uống rượu giải sầu, lại gặp bạn “giang hồ” cũ. Dù tình đã hết cũng xáp lại để có đôi có cặp, để được đối ẩm, khiêu vũ với người “hợp gu”, “hợp rơ”.
Thành Sầu Của Vũ Hoàng Chương
Tập thơ Say của Vũ Hoàng Chương xuất bản năm 1940 – có nghĩa là bài thơ Say Đi Em được viết trước đó.
Nho học đã lụi tàn. Khoa thi Hương cuối cùng là khoa Mậu Ngọ (1918), tổ chức tại trường Thừa Thiên. Sau khoa thi Hương này, ngày 28/12/1918, vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ khoa cử ở Việt Nam. Khoa thi Hội và thi Đình cuối cùng được tổ chức năm 1919. Những người thi đỗ có bằng nhưng không được bổ nhiệm chức vụ gì. (2)
Cha mẹ VHC, cũng như rất nhiều bậc cha mẹ thuộc hàng quan lại, khá giả thời bấy giờ, ở vào thế tấn thối lưỡng nan. Một là, giữ lấy chút tiết tháo kiểu quân tử Tàu, thà để con lông bông chịu dốt chứ không thèm hợp tác với ngoại bang. Hai là, cho con theo Tây học để mở mang kiến thức, có cơ hội thăng tiến trong xã hội mới. Họ, hầu hết, đã chọn con đường thứ hai. Vũ Hoàng Chương nhờ thế, đỗ Tú Tài Pháp ban toán năm 21 tuổi (1937).
Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ, đi làm Phó Kiểm Soát Sở Hỏa Xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm (Wikipedia). (3)
“Vào năm 1935, Hà Nội tuy sống dưới chế độ bảo hộ của thực dân Pháp nhưng có một bộ mặt rất thanh bình, vui vẻ, trẻ trung.
Nhà cầm quyền đang cố tình dung túng các cuộc ăn chơi phóng túng để người ta quên đi biến cố đàn áp tàn bạo vừa qua (Năm 1930, Nguyễn Thái Học và mười hai liệt sĩ VN Quốc Dân Đảng khác phải lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, sau đó là chiến dịch lùng sục bắt bớ ở nhiều nơi), đồng thời để ru ngủ thanh niên nên các trà đình, tửu điếm, các tiệm nhẩy đầm, các nhà hát ả đào (còn gọi là hát cô đầu) và các tiệm hút thuốc phiện mọc lên nhan nhản.
Người ta đua nhau ăn diện, nhiều cậu công tử Hà Thành diện đúng mốt Paris, tay sách can đi bên cạnh các cô gái tân thời, phấp phới áo dài Lemur Nguyễn Cát Tường. (4)
VHC ngoài việc bắt buộc phải theo Tây học để tiến thân, còn cắn phải miếng mồi “ru ngủ” của người Pháp. Ông cũng lao vào những thú vui trác táng – rượu, thuốc phiện, nhảy đầm và cả gái nữa. Về điểm này, Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã có một đoạn khá đầy đủ:
Người say đủ thứ: Say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn “hơn” cổ nhân những thứ say mới nhập cảng: Say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: Say thơ. (3)
Như vậy, “thành sầu” của VHC là nỗi sầu đất nước bị ngoại bang đô hộ, dân tộc bị chúng làm tha hóa, băng hoại bằng đủ mọi âm mưu thâm độc.
Trớ trêu thay, chính ông lại góp tay, giúp sức cho bộ máy cai trị ấy, chính ông lại lậm vào những cuộc chơi trác táng do chúng đặt ra, không những tự làm hỏng mình mà còn làm gương xấu cho lớp trẻ, rường cột của tương lai dân tộc.
Ông cảm thấy tội lỗi, tủi nhục, uất ức và chất ngất buồn sầu. Là người có liêm sỉ, ông đã can đảm nói lên sự thật:
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh.
(Phương Xa)
Năm 1941, ông bỏ Sở Hỏa Xa đi học Cử Nhân Toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy (tư) ở Hải Phòng (3).
Nỗi tủi nhục buồn sầu đó bắt rễ, ăn sâu rồi cao lớn như một bức tường thành sừng sững trong tâm hồn nhà thơ – đã trở thành điểm mấu chốt trong tứ thơ của thi phẩm Say Đi Em.
“Thành Sầu” Trong “Say Đi Em” Của Vũ Hoàng Chương Có Nỗi “Sầu Tình” Không?
Cha Vũ Hoàng Chương là Vũ Thiện Thuật, một nhà nho bảo thủ, nghiêm khắc, làm Tri Huyện, muốn sau khi VHC học xong sẽ hỏi con gái một quan Bố Chánh, bạn thân của mình, cho ông. Ông không thích kiểu hôn nhân áp đặt nên không đồng ý và đã làm phật lòng cha. Vì thế khi ông yêu cầu đi hỏi Tố Uyển – người yêu của mình – về làm dâu trong gia đình thì cha ông đã từ chối thẳng thừng. (4)
Khoảng tháng 3 năm 1941 song thân của Tố Uyển mới nhận lễ vật dạm ngõ của nhà trai (anh Cử Cương) (4) và mãi đến ngày 12 tháng 6 năm Tân Tỵ (khoảng tháng 7 năm 1941) nàng mới lên xe hoa về nhà chồng. (6) Sau đây là một đoạn trong bài Mười Hai Tháng Sáu ông viết về mối tình tan vỡ của mình:
Tháng Sáu mười hai, từ đấy nhé
Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi.
Em xa lạ quá đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của Tôi.
Nỗi sầu thất tình của VHC xuất hiện sau năm tập thơ Say ra đời (1940) nên có thể nói chắc rằng nó không ăn nhập gì đến “thành sầu” của thi sĩ trong bài thơ Say Đi Em.
Tứ Thơ
Trong một đêm đi nhảy ở vũ trường, gặp “bạn nhảy cũ”, tác giả mời nàng đối ẩm, có ý muốn mượn rượu để giải sầu, nhưng uống đến mức “say không còn biết chi đời” mà nỗi sầu vẫn sừng sững như một bức tường thành, không sụp đổ.
Bố Cục Dàn Ý
Bài thơ có thể chia làm 4 đoạn:
1/ Đoạn mở đầu 10 câu, thiết lập khung cảnh của bài thơ: Đến vũ trường, gặp người tình cũ đang là ca ve ở đấy. Tình đã héo nhưng chân còn “ngứa ngáy” nên xáp lại.
2/ Đoạn hai 16 câu: Cảm giác “Đê mê hồn gửi cánh tay hờ” khi đang dìu em trên sàn nhảy lúc rượu đã ngà ngà.
3/ Đoạn ba 13 câu: Mời em cùng uống cho đến khi “say không còn biết chi đời”.
4/ Đoạn kết 5 câu: Nỗi sầu vẫn còn đó – sừng sững như một bức tường thành, không sụp đổ.
Vũ Hoàng Chương viết Say Đi Em không theo lối kể chuyện lớp lang theo trình tự thời gian. Trong một lúc tĩnh lặng nào đó, ông hồi tưởng rồi trải lên trang giấy những hình ảnh, cảm giác, tâm trạng lưu lại trong ông ấn tượng mạnh mẽ nhất, sâu đậm nhất của một đêm đi nhảy, uống rượu ở vũ trường.
Vì thế, ở đoạn 2, có lẽ ông nói đến điệu nhảy sau cùng, nhịp điệu nhanh, tâm trạng phấn khích, hào hứng, có người còn liên tưởng đến những bước “fantaisie” của vũ điệu Tango (cũng điệu Tango 4 phách, chế ra những bước nhảy mới lạ – gọi tắt là nhảy “phăng”).
Trước khi vào đoạn 3 ông đã mấp mé ở ranh giới giữa “ngà ngà” và thật say. Cho nên nâng ly mời cô bạn nhảy “Say đi em! Say đi em!” thì chắc chỉ được vài ly là ông đã “Say không còn biết chi đời”.
Nhưng dù say đến thế nhưng nỗi sầu quá sâu đậm, vẫn như một bức tường thành, không sụp đổ.
Vần Và Dòng Chảy Của Tứ Thơ
Về hình thức, tác giả sử dụng thể Thơ Mới, nhưng không phải lối thơ Trường Thiên (mỗi đoạn 4 câu) mà là thể thơ nhất khí liền mạch – một hơi từ câu đầu đến câu cuối. Nhưng cũng không phải như Nhớ Rừng của Thế Lữ – cứ 8 chữ một câu với vần liên tiếp, đọc lên nghe rất ngán.
“Say Đi Em” rất phóng khoáng. Có đôi chỗ ngừng là do tác giả muốn chuyển ý, đổi vần chứ không phải do đòi hỏi của luật thơ. Ông cũng tạo ra một số thay đổi, vừa tránh được trói buộc của luật tắc, vừa có thể nhấn mạnh điểm chính của tứ thơ:
1/ Số câu trong bài không giới hạn, viết hết ý, hết hứng thì thôi.
2/ Số chữ trong câu thay đổi (với biên độ rộng) một cách tùy tiện, tùy hứng. Câu ngắn nhất 3 chữ (Chân rã rời), câu dài nhất 13 chữ (Hoa xưa tươi, trăng xưa đẹp, gối xưa kề, tình nay sao héo). Nhờ thế, nhịp điệu thơ thay đổi liên tục.
3/ Vần rất đậm, nhưng không có hội chứng nhàm chán vần, đọc lên không thấy ngán. Câu sau nối tiếp câu trước, tứ thơ và cảm xúc cứ thế tuôn chảy thành dòng. Lý do: Nhịp điệu thay đổi cộng với sự giúp sức của mấy đoạn gieo vần gián cách:
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
Và:
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Thêm vào đó, để thay đổi không khí, còn có hai câu thơ lục bát mượt mà ở đoạn đầu và sự phối hợp một cách tài tình điệp ngữ, điệp vận với vần ôm ở đoạn kết.
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
Ở thời điểm trước năm 1940 mà đã sử dụng vần phóng khoáng và điệu nghệ như vậy thì thật đáng nể phục.
Cũng xin nói đến một điểm nổi bật về kỹ thuật thơ của VHC là sự chuyển đoạn ăn khớp, khéo léo – từ ý này bước qua ý khác rất ngọt.
a/ Đoạn 1 qua đoạn 2
Từ:
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ.
qua:
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ.
Vừa nói “hết yêu nhưng còn mê nhảy” đã chuyển qua cảnh ôm em trên sàn nhảy. Sự kết nối thật tương hợp.
b/ Đoạn 2 qua đoạn 3
Từ:
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men
qua:
Say đi em! Say đi em!
Đều nói đến rượu, kết nối hợp lý.
c/ Đoạn 3 qua đoạn 4
Từ:
Say không còn biết chi đời
qua:
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Vừa thú nhận “Say không còn biết chi đời” đã thấy “Đất trời nghiêng ngửa”. Mối liên hệ nhân quả, không một kẽ hở.
Nhờ sự chuyển đoạn khéo léo như vậy nên tứ thơ thông thoáng, bài thơ nhất khí liền mạch, cảm xúc lớn mạnh nhanh chóng.
Điệp Vận Ở Phần Sau Đoạn 3 – Nói Về Cơn Say
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi…
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Có 9 câu thơ ngắn mà đến 6 lần vần ôi (hoặc ơi) – điệp vận đến mức thoạt nhìn qua là đã mất cảm tình. Nhưng thật lạ! Đọc lên không những không thấy ngán mà còn thấy hồn mình như bị dính chặt vào ý thơ – cơn say thực sự, “say không còn biết chi đời” – của tác giả.
Với cơn say ở đỉnh điểm như vậy, không còn chỗ cho lý trí và con đẻ của nó là sự dối trá, bám víu. Năm câu sau của đoạn kết đúng là tiếng lòng chân thật.
Điệp vận kiểu ấy, theo tôi, nếu là người làm thơ tỉnh táo, chắc là sẽ tránh xa. VHC, trong lúc lạc lần trí, đã hiên ngang bước vào “bãi mìn” ấy, nhưng nhờ thế, đã tạo được một đoạn thơ độc đáo, có giá trị như một con dấu chứng nhận sự chân thật cho đoạn kết, góp phần hết sức quan trọng vào sự thành công của thi phẩm Say Đi Em.
Đoạn Kết Tuyệt Vời
Sau khi đã uống đến “Say không còn biết chi đời” thi sĩ đã cho tuôn ra đoạn thơ:
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
Đoạn thơ hay cả về ngôn ngữ, thi ảnh, cấu trúc, âm điệu và nhịp điệu. Đặc biệt điệp ngữ ở hai cụm từ “em ơi” và “đất trời nghiêng ngửa” cho độc giả như tôi cái cảm giác đang nghe CODA của một bản nhạc, được viết rất khéo bởi một nhạc sĩ tài danh.
Thành sầu của ông như đang chịu một trận động đất mạnh đến mức “đất trời nghiêng ngửa” mà vẫn “chưa sụp đổ” và đã chuyển từ chỗ “chưa sụp đổ” – còn chờ đợi, còn một chút hy vọng mong manh – đến chỗ “không sụp đổ” – nghĩa là đã hoàn toàn tuyệt vọng.
Nỗi buồn sầu đã dâng lên đến đỉnh điểm. Chữ “không” ở câu cuối “đắt” như kim cương và ẩn dụ của cả đoạn thơ thật tuyệt vời.
Cảm Xúc Dâng Tràn – Hồn Thơ Lai Láng
Cảm xúc tầng 1:
Theo tôi, VHC thành công trong việc trao tặng độc giả những cảm giác khoái trá ở tầng 1. Ngôn ngữ thơ của ông chắt lọc, trau chuốt, hình tượng đẹp một cách lộng lẫy, kiêu sa, câu thơ mạch lạc, trong sáng. Nói theo ngôn ngữ bóng đá, kỹ thuật cá nhân của các cầu thủ trong Say Đi Em điêu luyện, thuộc đẳng cấp cao, nhìn qua là thấy có cảm tình và nể phục.
Cảm xúc tầng 2:
Trong Say Đi Em thế trận chữ nghĩa được dàn trải hợp lý, tạo hiệu quả tối đa cho việc chuyển tải tứ thơ. Vần và nhịp điệu giúp dòng chảy của tứ thơ thông thoáng. Độc giả như được xem một trận bóng đá mà đội phe mình công thủ, lên xuống nhịp nhàng, đấu pháp toàn đội kín kẽ, hoàn hảo.
Cảm xúc tầng 3:
Là thứ cảm xúc cao cấp nhất trong thơ – nếu đến mức dâng tràn, ta có hồn thơ. Để có hồn thơ bài thơ cần mấy điều kiện sau đây:
1/ Tứ thơ không phân mảnh đứt đoạn mà phải được dàn trải sao cho ý này nối tiếp ý kia, không ngừng nghỉ.
2/ Thể thơ phải như con kênh thông thoáng để khi câu chữ từ tứ thơ tuôn xuống có thể thành dòng thơ. Trong Say Đi Em, chỉ mới bước vào đầu đoạn 2 là men rượu đã ngấm, cảm xúc quyện lấy tứ thơ để cùng chảy một dòng.
3/ Thi sĩ phải nổi điên để cảm xúc sôi lên phủ mờ lý trí. Trường hợp Say Đi Em, bắt đầu vào đoạn 3 là lý trí đã trốn chạy khá xa, và đến giữa đoạn 3 thì hoàn toàn mất dạng. Cứ thế cho đến lúc thi sĩ “Say không còn biết chi đời”.
4/ Phải kết hợp để khi cảm xúc lên đến đỉnh điểm (cao trào) thì cũng là lúc thi sĩ tuôn ra điểm cốt yếu của tứ thơ. Đó sẽ là tiếng lòng chân thật của ngài. Ở Say Đi Em là đoạn 3 và đoạn 4.
Say Đi Em không những có đủ 4 điều kiện trên mà điều kiện nào cũng đạt đến mức hoàn hảo. Hơn nữa, dòng chảy của tứ thơ nhanh và mạnh, nên có thể nói mà không sợ quá lời: Bài thơ có cảm xúc dâng tràn, hồn thơ lai láng.
So sánh với Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác – một bài thơ được nhiều người khen là “hào khí ngất trời” – cảm xúc của Say Đi Em mạnh hơn nhiều
Những Nét Chính Trong Nghệ Thuật Thơ Của “Say Đi Em”
Say Đi Em là bài thơ có độ dài bậc trung – 44 câu, 283 chữ, mỗi câu trung bình có 6,4 chữ. Nhưng chỉ với số chữ, số câu như thế tác giả đã đưa vào khá nhiều tuyệt chiêu thi ca. Để độc giả không bị phân tâm hoặc sa đà vào những tiểu tiết có tính “kỹ thuật cá nhân” (câu chữ) ở đây tôi chỉ nhắc đến tài thơ của thi sĩ về mặt thế trận và cảm xúc. “Kỹ thuật cá nhân” sẽ được ghi lại ở “Phần Đọc Thêm”
ƯU ĐIỂM:
1/ Vẫn còn vóc dáng, âm điệu của Thơ Mới nhưng có nhiều phá cách độc đáo.
2/ Tứ thơ đáng chú ý: Nỗi lòng phức tạp của tác giả – mặc cảm tội lỗi nhưng đáng thương, đáng kính trọng, đặc biệt là sự can đảm, dám nói lên sự thật.
3/ Bài thơ có tính nhạc cao, nhất là nhịp điệu. Thơ, nhạc, họa hòa quyện lấy nhau thành một khung cảnh vừa sống động, vừa lung linh mờ ảo.
4/ Sử dụng điệp vận nặng tay ở phần sau đọan 3 – cột chặt hồn người đọc vào ý thơ, vào dòng cảm xúc, làm nổi bật ý nghĩa của đoạn thơ:
“Ta quá say rồi …
Say không còn biết chi đời”.
5/ Đoạn kết hoàn hảo, để lại ấn tượng sâu sắc.
6/ Vần rất đậm nhưng không có hội chứng nhàm chán vần, đọc lên nghe không ngán, không nhàm, không chán. Không bị đắp mô nên tứ thơ thông thoáng, chảy thành dòng; cảm xúc cũng chảy thành dòng, đưa tứ thơ lên đỉnh điểm, tạo được cao trào.
7/ Lý trí trốn biệt, lời thơ Thật (viết hoa), cảm xúc dạt dào, hồn thơ lai láng.
8/ Đạt được mục đích quan trọng nhất, cao cả nhất của thơ là cho thi sĩ với độc giả cơ hội được trao đổi tâm tình bằng Tiếng Người Chân Thật. Vũ Hoàng Chương – tác giả của Say Đi Em – xứng đáng có một vị trí danh dự trong Bến Bờ Thi Ca.
KHUYẾT ĐIỂM:
Trong 3 câu
Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương…
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo?
Cụm từ “cùng nhớ thương” hơi “chõi” với “tình nay sao héo”. Hai người “cùng nhớ thương” thì sao tình lại héo?
Vũ Hoàng Chương Say Thật Hay “Tỉnh Như Sáo”?
Nhà phê bình Thu Tứ dẫn lời của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan về bài thơ Say Đi Em như sau:
Về tập Thơ Say (1940) của Vũ Hoàng Chương, trong Nhà Văn Hiện Đại Vũ Ngọc Phan viết “(tác giả) rất chú trọng đến sự gọt dũa lời thơ (…) Ðọc thơ ông người ta thấy ít cảm động (…) Người ta có cái cảm tưởng đó chỉ là những lời nhớ hão, thương hờ.” Riêng về bài sau đây (Say Đi Em), nhà phê bình nhận xét “cái say (của Vũ Hoàng Chương) là cái say phát ra ở điệu thơ, ở nghệ thuật của ông, hơn là ở những tính tình ông thổ lộ.”(1)
Và nhà phê bình Thu Tứ đưa ra cảm tưởng của mình:
Ðọc thơ ông Vũ này, rồi đọc lời bình thơ của ông Vũ kia, thấy phân vân. Có phải Vũ Hoàng Chương “nhớ hão, thương hờ”? Hay thực ra ông nhớ thật, thương thật, chỉ những lời quá trau chuốt của ông gây cảm tưởng kém chân thành?
“Ta quá say rồi”, nhưng lời thơ của ta cứ tỉnh như sáo, rắc rối hình như là ở đó…(1)
Mặc dù rất kính trọng kiến thức rất rộng của hai nhà phê bình Thu Tứ và Vũ Ngọc Phan về Văn Học, tôi không đồng ý với nhận định của hai ông về bài thơ Say Đi Em.
Trong số rất nhiều định nghĩa thơ tôi may mắn gặp được định nghĩa đề cập đến thời điểm thi sĩ cầm bút làm thơ của William Wordsworth:
“Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility”.
“Thơ là cảm xúc mạnh mẽ tự động trào ra, khởi đi từ cảm xúc được hồi tưởng trong sự tĩnh lặng.” (5)
Có nghĩa là, trái với suy nghĩ của nhiều người, tuyệt đại đa số thơ được sáng tác, không phải ngay lúc tác giả tiếp cận với cảnh thơ mà là sau đó một thời gian – dài ngắn tùy thi sĩ, tùy “độ lớn rộng” của đề tài, của tứ thơ và độ dài của bài thơ. Đó là thời gian ấp ủ, thai nghén tứ thơ.
VHC viết Say Đi Em – một bài thơ bề thế (44 câu, 283 chữ) – không phải lúc say bí tỉ ở vũ trường mà là một lúc tĩnh lặng nào đó khi đã về nhà. Có thể sau đó vài ngày. Có thể vài tuần, vài tháng, và cũng có thể cả năm.
Từ một câu nói, một cảnh tượng hay một cái gì đó tình cờ khơi gợi, kỷ niệm xưa bùng cháy trong tâm khảm và thi sĩ ghi lại bằng sự hồi tưởng của mình.
Câu nói của Thu Tứ
“’Ta quá say rồi’, nhưng lời thơ của ta cứ tỉnh như sáo, rắc rối hình như là ở đó…”
là nhận xét của một người chưa làm thơ, hoặc làm thơ mà chưa hiểu được, chưa thấy được, chưa ý thức được tiến trình làm thơ của mình.
“Ta quá say rồi” không phải là lời của VHC lúc đang say rượu ở vũ trường mà là phát biểu của một VHC khác, ở một nơi khác, đang hồi tưởng, để ghi lại bằng thơ cái tâm trạng của anh chàng VHC say bí tỉ ở vũ trường hôm đó.
Khi thi sĩ cao hứng đến mức nổi điên, con chữ cứ liên tục trào ra ngòi bút. Lúc ấy, tính “xạo” của cái tôi văn hóa (và cái tôi teo chim, nếu có) sẽ biến mất; những gì viết ra sẽ là sản phẩm (không gian dối) của cái tôi đích thực.
Tuy nhiên, lời thơ và cả thế trận chữ nghĩa – dù không có sự kiểm soát của lý trí – vẫn mang dáng dấp đẳng cấp của nhà thơ. Ngôn ngữ trau chuốt, cao sang không vì thế mà chuyển thành bình thường, dân dã. Câu thơ gọn gàng, trong sáng không vì thế mà thành tối mù, khó hiểu.
Hơn nữa, khi tứ thơ đã dàn trải xong, thi sĩ có quyền quay lại – với sự hỗ trợ của lý trí – để điều chỉnh, sửa chữa, miễn là đừng “đắp mô” cản hoặc làm lệch dòng chảy của cảm xúc.
Hồn thơ, tức là cái hơi nóng của cảm xúc tầng 3, không phải cứ mò mẫm, nắn bóp từng chữ, từng câu là “bắt” được nó. Cần phải có một tâm hồn nhạy bén, có thể “cảm” được “hận thù đằng đằng”, “đau thuơng chất ngất”, “hào khí ngất trời” … không phải từ con chữ, từ câu thơ, mà từ “giữa những hàng kẻ” để “lấy hồn ta hiểu hồn người” (Hoài Thanh).
Trong bóng đá, không phải lúc nào cầu thủ trên sân cũng tỉnh táo đi bóng, chuyền bóng, sút bóng theo đúng bài bản của huấn luyện viên đưa ra. Đôi khi tình huống xảy ra quá nhanh, không có thì giờ để suy nghĩ tính toán. Lúc ấy cầu thủ phải dựa vào sự nhạy bén, vào giác quan thứ 6 của mình để phản ứng, để chạy, để chuyền, để sút.
Rất nhiều khi phản ứng ngẫu hứng như vậy lại sản sinh ra những đường chuyền “đẹp như mơ”, những cú đệm bóng nhẹ nhàng nhưng lại “bẻ gẫy lưng” thủ thành đối phương ghi bàn thắng.
Nhiều cầu thủ xem lại khúc phim đá ngẫu hứng của mình cũng lắc đầu, le lưỡi, không hiểu sao mình có thể “tài tình” như thế được. Chính lúc cao hứng, nổi điên, chơi xuất thần, “phi bài bản” như vậy đã tạo nên nét đẹp đặc biệt của bóng đá, mới đưa bóng đá lên hàng nghệ thuật.
Trong Nhìn Từ Xa … Tổ Quốc, Nguyễn Duy – trong lúc cao hứng đến mức điên tiết – đã viết về những tệ hại của XHCN và con người Việt Nam đúng và thật quá, ngôn ngữ hình tượng mạnh mẽ, sinh động và táo bạo quá. Chính ông sau này cũng phải công nhận “khi viết xong thì chính bản thân tôi cũng bất ngờ bởi vì không nghĩ là mình viết được những câu thơ như vậy.”
Một ông thi sĩ Trung Quốc nào đó, nói về kinh nghiệm của mình trong việc uống rượu đã viết:
Dục phá thành sầu duy hữu tửu
Dịch sát nghĩa:
Chỉ có rượu mới phá được thành sầu.
Câu đó có thể đúng với rất nhiều nguời bầu bạn với Thần Men, nhưng với Vũ Hoàng Chương trong Say Đi Em thì có sự khác biệt. Phải chăng là do nỗi sầu của ông quá sâu đậm? Khi đã đến đỉnh điểm của cơn say – “Say không còn biết chi đời” – thi sĩ họ Vũ đã thốt lên:
Nhưng em ơi
Ðất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Ðất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi!
những lời mà theo tôi, hoàn toàn thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí, và do đó, tuyệt đối không thể là những lời dối trá.
Hai nhà phê bình văn học tiếng tăm, đặc biệt là Vũ Ngọc Phan, mà không cảm được hồn thơ, không nhận ra được sự chân thật trong lời thơ, tứ thơ của Say Đi Em thì kể cũng lạ.
Kết Luận
Vũ Hoàng Chương, bằng kỹ thuật thơ điêu luyện của mình, đã tạo được dòng chảy thông thoáng cho tứ thơ. Nhờ thế cảm xúc mạnh mẽ trong cơn say cũng chảy thành dòng, sóng sau dồn sóng trước. Khi cơn say lên đến đỉnh điểm, cảm xúc dâng lên cao ngất, cũng là lúc tứ thơ vừa chấm dứt – bài thơ kết thúc ở cao trào, hồn thơ lai láng. Với cảm xúc ở tầng 3 mạnh mẽ như thế, hồn thơ nóng bỏng như thế, lý trí đã bị phủ mờ. Lời thơ lúc ấy – trào ra qua một ngõ ngách nào đó từ vô thức – đích thị là tiếng lòng chân thật của thi sĩ.
Trong bài thơ Say Đi Em, thi sĩ của chúng ta, nhờ thấm hơi men, đã có thể đưa lý trí của mình “đi chỗ khác chơi” để có một thi phẩm vừa chân thật vừa thấm đẫm hồn thơ. Ông đã làm được điều mà ngay cả những nhà thơ siêu thực – bỏ rất nhiều công sức để nghiên cứu, thử nghiệm, nhằm loại bỏ lý trí (để tìm lời thật) trong thơ – cũng chỉ thành công phần nào về mặt hình thức. Họ tuy tạo được những vần thơ “phi logic”, có “những va đập chói lòa của từ ngữ” (J. Vaché), có khả năng ngăn cản lý trí của người đọc bước vào bài thơ, nhưng đồng thời cũng chặt luôn cây cầu giao cảm giữa tác giả và độc giả (7).
Theo tôi, với bài thơ Say Đi Em, Vũ Hoàng Chương đã xứng đáng được mời vào ngồi một chỗ trang trọng trong Bến Bờ Thi Ca, nơi tụ hội những thi sĩ đã có tác phẩm mà qua đó, nhờ đó, thi sĩ với độc giả được cùng nhau trò chuyện bằng Tiếng Người Chân Thật.
Phạm Đức Nhì
CHÚ THÍCH:
1 / (Vũ Hoàng Chương, Thu Tứ, gocnhin.net)
(http://www.gocnhin.net/cgi-bin/viewitem.pl?935
2/ (Chi Tiết Thú Vị Về Khoa Thi Nho Học Cuối Cùng, Chí Đức, kienthuc.net.vn)
(https://kienthuc.net.vn/tham-cung/chi-tiet-thu-vi-ve-khoa-thi-nho-hoc-cuoi-cung-405397.html)
3/ (Vũ Hoàng Chương, Wikipedia.org)
(https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Ho%C3%A0ng_Ch%C6%B0%C6%A1ng)
4/ (Thiên Tình Sử Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương – Phần 2, Phạm Thị Nhung, Quê Nội)
https://quenoi.com/thien-tinh-su-cua-thi-si-vu-hoang-chuong2/
5/ (William Wordsworth Quotes, Brainy Quote, brainyquote.com)
(https://www.brainyquote.com/quotes/william_wordsworth_390135)
6/ (Thiên Tình Sử Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương – Phần 2, Phạm Thị Nhung, Quê Nội)
https://quenoi.com/thien-tinh-su-cua-thi-si-vu-hoang-chuong2/
7/ Vài câu, đoạn thơ Siêu Thực:
a/ Bông hoa này của núi rừng đã vàng đi như những giọt lệ của chúng ta (Shéhadé)
b/ Dây trường xuân / thân thể tôi…
Đảo / cái bụng của nó…
(Char)
c/ Trên cây cầu, vào cùng một giờ
Cũng vậy hạt sương trên đầu con mèo cái đang tự dối mình.
(Bréton)
http://khoavanhoc.edu.vn/index.php/liluan-phebinh/268-hinh-nh-trong-th-sieu-thc
d/
Lẵng xuân bờ giũ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm
Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa
Buồn hưởng vườn người vai suối tươi
Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời
Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu
Duyên vàng da lộng trái du ngươi
(Buồn Xưa, Nguyễn Xuân Sanh, thivien.net)
PHẦN ĐỌC THÊM
Nét Đẹp Kiêu Sa Của Ngôn Ngữ Thơ Trong “Say Đi Em”
Ở đây tôi xin tuyển chọn một số chỗ có ngôn ngữ thơ hay, đẹp để thay cho mục Ngôn Ngữ Thơ, lẽ ra phải có, trong bài bình thơ. Mục đích là để bài viết khỏi bị loãng vì những chi tiết chưa đến mức thật quan trọng. Mong những độc giả thích lối bình thơ bài bản thông cảm và lượng thứ.
1/
Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ
Đoạn thơ này chứng tỏ tình của VHC đối với mấy cô ca ve là thứ tình hờ. Chỉ cần hồn ngả, lòng nghiêng là “yêu thương” trôi tuột mất một cách dễ dàng và nhẹ nhàng.
Tôi nhớ đến bài thơ Nghiêng của La Thụy. Nhà thơ, chủ trang web Bâng Khuâng, cho lòng chao nghiêng để hương mê lắng đọng
Chừ hoài niệm
Len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức
Tình xưa hẹn ước.
Có “chông chênh” thì chỉ “rơi mất ánh trăng thề” chứ tình thì vẫn đầy ắp.
Thi ảnh của Nghiêng đẹp hơn, nhưng VHC còn sử dụng 2 câu sau để làm cầu nối với đoạn kế tiếp, và đó là một mặt của tấm bản lề vừa khít. Cho nên xét về thơ thì có thể nói kẻ tám lạng người nửa cân. Còn nói về tâm hồn thì nhà thơ La thụy hiền lành và dễ thương hơn.
2/
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gởi cánh tay hờ
Ai khoái món khiêu vũ lại thường được nhảy với đào ruột của mình như Vũ Hoàng Chương sẽ dễ thấm, dễ cảm được cái hay của câu thơ “Đê mê hồn gởi cánh tay hờ” này.
3/
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Dùng những cụm từ “lơi lả ánh đèn”, “cung bậc ngả nghiêng” để nói về trạng thái say đã là xuất sắc rồi. Còn say cho “điên rồ xác thịt” thì quá tuyệt.
4/
Năm 1948, trong bài Đôi Bờ của Quang Dũng có 2 câu
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mưa
nói về hình ảnh, kỷ niệm xưa ẩn hiện “trong đáy cốc”, đẹp một cách hiền dịu.
VHC viết Say Đi Em trước đó khoảng 10 năm cũng có câu
“Có ai ghì hư ảnh sát kề môi”
cũng diễn tả những ảnh hình ẩn hiện ở đáy ly rượu.
Hay, có lẽ cả hai đều hay, nhưng theo tôi, câu thơ của Quang Dũng còn hơi tỉnh (không đủ men say) còn câu thơ của VHC mạnh bạo hơn, cuồng nhiệt hơn.
(Nguồn: Quang Dũng – tác phẩm chọn lọc, NXB Trẻ, 1988)
5/ Chữ “không” ở câu cuối thật “đắt”
“Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi.
Xin được lập lại mấy lời về cái “đắt” của chữ “không” này.
Thành sầu của ông như đang chịu một trận động đất mạnh đến mức “đất trời nghiêng ngửa” mà vẫn “chưa sụp đổ” và đã chuyển từ chỗ “chưa sụp đổ” – còn chờ đợi, còn một chút hy vọng mong manh – đến chỗ “không sụp đổ” – nghĩa là đã hoàn toàn tuyệt vọng. Nỗi buồn sầu đã dâng lên đến đỉnh điểm. Chữ “không” ở câu cuối “đắt” như kim cương.
Trong lúc tra cứu để viết bài này tôi có nghe ca sĩ Anh Thư hát Say Đi Em, bài thơ của Vũ Hoàng Chương được Nguyễn Dũng phổ nhạc. Bản nhạc kết thúc ở câu “Đất trời nghiêng ngửa, đất trời nghiêng ngửa, mà thành sầu chưa sụp đổ, em ơi”. Nhạc sĩ Nguyễn Dũng – không biết vì lý do gì – đã bỏ câu “Thành sầu không sụp đổ”. Thật đáng tiếc, anh đã bỏ đi chữ hay nhất, câu thơ hay nhất của bài thơ.
Mời độc giả, nếu muốn, nghe bản nhạc ở link sau đây:
https://www.youtube.com/watch?v=5NhMaivUgG0
6/ Hai chữ “em ơi” ở câu đầu và câu cuối đoạn 4:
Nhưng em ơi
Ðất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Ðất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi!
Về ý nghĩa thì đóng góp rất ít, nhưng được đặt đúng chỗ và kết hợp với nhau một cách khéo léo đã tạo được âm vang tuyệt vời cho đoạn kết.
THĂM LẠI BÀI THƠ "SAY ĐI EM"
Lời Nói Đầu:
Nhiều năm trước tôi đã viết lời bình cho bài thơ đặc biệt này với tựa đề Say Đi Em - Một Bài Thơ “Tới Bến”. Đó là kiểu bình thơ “bài bản, trường lớp” - tiếp cận, phân tích toàn diện bài thơ – như một bài Luận Văn (Essay) ở bậc đại học.
Lần này, nhân dịp mở trang Blog Lý Thuyết Thơ tôi “Thăm Lại Bài Thơ” để nhấn mạnh vài “phương tiện thẩm mỹ” mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã sử dụng một cách điệu nghệ để đưa bài thơ lên đỉnh cao chót vót của nghệ thuật thi ca.
Những “phương tiện thẩm mỹ” đó là:
1/ Bố cục dàn ý hợp lý
2/ Nối kết các ý khi chuyển đoạn khéo léo.
3/ Sử dụng vần điệu nghệ - vị ngọt rất đậm nhưng không ngán
4/ Nhịp điệu sống động
5/ Dòng tứ thơ, dòng âm điệu, dòng cảm xúc – 3 dòng nhập một, chảy rất mạnh.
6/ Đoạn kết tuyệt vời
7/ Tạo được cao trào và kết thúc ở cao trào/ hồn thơ lênh láng
SAY ĐI EM
Tác giả: Vũ Hoàng Chương.
1/
Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương…
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo?
Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ
2/
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần…
Bốn tường nghiêng điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta
Cổ chưa khô đầu chưa nặng mắt chưa hoa
Tay mềm mại bước còn chưa chuếnh choáng
Chưa cuối xứ Mê Ly chưa cùng trời Phóng Đãng
Còn chưa say hồn khát vẫn thèm men
3/
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt!
Rượu, rượu nữa! Và quên, quên hết!
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi…
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
4/
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
(Vũ Hoàng Chương)
Thành Sầu Của Vũ Hoàng Chương
VHC ngoài việc bắt buộc phải theo Tây học để tiến thân, còn cắn phải miếng mồi “ru ngủ” của người Pháp. Ông cũng lao vào những thú vui trác táng – rượu, thuốc phiện, nhảy đầm và cả gái nữa. Về điểm này, Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã có một đoạn khá đầy đủ:
Người say đủ thứ: Say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn “hơn” cổ nhân những thứ say mới nhập cảng: Say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: Say thơ. (3)
Như vậy, “thành sầu” của VHC là nỗi sầu đất nước bị ngoại bang đô hộ, dân tộc bị chúng làm tha hóa, băng hoại bằng đủ mọi âm mưu thâm độc.
Trớ trêu thay, chính ông lại góp tay, giúp sức cho bộ máy cai trị ấy, chính ông lại lậm vào những cuộc chơi trác táng do chúng đặt ra, không những tự làm hỏng mình mà còn làm gương xấu cho lớp trẻ, rường cột của tương lai dân tộc.
Ông cảm thấy tội lỗi, tủi nhục, uất ức và chất ngất buồn sầu.
Tứ Thơ
Trong một đêm đi nhảy ở vũ trường, gặp “bạn nhảy cũ”, tác giả mời nàng đối ẩm, có ý muốn mượn rượu để giải sầu, nhưng uống đến mức “say không còn biết chi đời” mà nỗi sầu vẫn sừng sững như một bức tường thành, không sụp đổ.
Bố Cục Dàn Ý
Bài thơ có thể chia làm 4 đoạn:
1/ Đoạn mở đầu 10 câu, thiết lập khung cảnh của bài thơ: Đến vũ trường, gặp người tình cũ đang là ca ve ở đấy. Tình đã héo nhưng chân còn “ngứa ngáy” nên xáp lại.
2/ Đoạn hai 16 câu: Cảm giác “Đê mê hồn gửi cánh tay hờ” khi đang dìu em trên sàn nhảy lúc rượu đã ngà ngà.
3/ Đoạn ba 13 câu: Mời em cùng uống cho đến khi “say không còn biết chi đời”.
4/ Đoạn kết 5 câu: Nỗi sầu vẫn còn đó – sừng sững như một bức tường thành, không sụp đổ.
Vần Và Dòng Chảy Của Tứ Thơ
Về hình thức, tác giả sử dụng thể Thơ Mới, nhưng không phải lối thơ Trường Thiên (mỗi đoạn 4 câu) mà là thể thơ nhất khí liền mạch – một hơi từ câu đầu đến câu cuối. Nhưng cũng không phải như Nhớ Rừng của Thế Lữ – cứ 8 chữ một câu với vần liên tiếp, đọc lên nghe rất ngán.
Có thể tạm gọi đây là một loại Thơ Mới Biến Thể, rất gần với Thơ Tự Do.
“Say Đi Em” rất phóng khoáng. Có đôi chỗ ngừng là do tác giả muốn chuyển ý, đổi vần chứ không phải do đòi hỏi của luật thơ. Ông cũng tạo ra một số thay đổi, vừa tránh được trói buộc của luật tắc, vừa có thể nhấn mạnh điểm chính của tứ thơ.
1/ Số câu trong bài không giới hạn, viết hết ý, hết hứng thì thôi.
2/ Số chữ trong câu thay đổi (với biên độ rộng) một cách tùy tiện, tùy hứng. Câu ngắn nhất 3 chữ (Chân rã rời), câu dài nhất 13 chữ (Hoa xưa tươi, trăng xưa đẹp, gối xưa kề, tình nay sao héo). Nhờ thế, nhịp điệu thơ thay đổi liên tục.
3/ Vần rất đậm, nhưng không có hội chứng nhàm chán vần, đọc lên không thấy ngán. Câu sau nối tiếp câu trước, tứ thơ và cảm xúc cứ thế tuôn chảy thành dòng. Lý do: Nhịp điệu thay đổi cộng với sự giúp sức của mấy đoạn gieo vần gián cách:
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
Và:
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Thêm vào đó, để thay đổi không khí, còn có hai câu thơ lục bát mượt mà ở đoạn đầu:
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ
và sự phối hợp một cách tài tình điệp ngữ, điệp vận với vần ôm ở đoạn kết.
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
Ở thời điểm trước năm 1940 mà đã sử dụng vần phóng khoáng và điệu nghệ như vậy thì thật đáng nể phục.
4/ Chuyển đoạn ăn khớp: Cũng xin nói đến một điểm nổi bật về kỹ thuật thơ của VHC là sự chuyển đoạn ăn khớp, khéo léo – từ ý này bước qua ý khác rất ngọt.
a/ Đoạn 1 qua đoạn 2
Từ:
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ.
qua:
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ.
Vừa nói “hết yêu nhưng còn mê nhảy” đã chuyển qua cảnh ôm em trên sàn nhảy. Sự kết nối thật tương hợp.
b/ Đoạn 2 qua đoạn 3
Từ:
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men
qua:
Say đi em! Say đi em!
Đều nói đến rượu, kết nối hợp lý.
c/ Đoạn 3 qua đoạn 4
Từ:
Say không còn biết chi đời
qua:
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Vừa thú nhận “Say không còn biết chi đời” đã thấy “Đất trời nghiêng ngửa”. Mối liên hệ nhân quả, không một kẽ hở.
Nhờ sự chuyển đoạn khéo léo như vậy nên tứ thơ thông thoáng, bài thơ nhất khí liền mạch, cảm xúc lớn mạnh nhanh chóng.
Điệp Vận Ở Phần Sau Đoạn 3 – Nói Về Cơn Say
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi…
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Có 9 câu thơ ngắn mà đến 6 lần vần ôi (hoặc ơi) – điệp vận đến mức thoạt nhìn qua là đã mất cảm tình. Nhưng thật lạ! Đọc lên không những không thấy ngán mà còn thấy hồn mình như bị dính chặt vào ý thơ – cơn say thực sự, “say không còn biết chi đời” – của tác giả.
Với cơn say ở đỉnh điểm như vậy, không còn chỗ cho lý trí và con đẻ của nó là sự dối trá, bám víu. Năm câu sau của đoạn kết đúng là tiếng lòng chân thật.
Điệp vận kiểu ấy, theo tôi, nếu là người làm thơ tỉnh táo, chắc là sẽ tránh xa. VHC, trong lúc lạc lần trí, đã hiên ngang bước vào “bãi mìn” ấy. Nhưng nhờ thế, đã tạo được một đoạn thơ độc đáo, có giá trị như một con dấu chứng nhận sự chân thật cho đoạn kết, góp phần hết sức quan trọng vào sự thành công của thi phẩm Say Đi Em.
Đoạn Kết Tuyệt Vời
Sau khi đã uống đến “Say không còn biết chi đời” thi sĩ đã cho tuôn ra đoạn thơ:
Nhưng em ơi!
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
Đoạn thơ hay cả về ngôn ngữ, thi ảnh, cấu trúc, âm điệu và nhịp điệu. Đặc biệt điệp ngữ ở hai cụm từ “em ơi” và “Đất trời nghiêng ngửa” cho độc giả như tôi cái cảm giác đang nghe CODA kết thúc một bản nhạc, được viết rất khéo bởi một nhạc sĩ tài ba.
Thành sầu của ông như đang chịu một trận động đất mạnh đến mức “đất trời nghiêng ngửa” mà vẫn “chưa sụp đổ” và đã chuyển từ chỗ “chưa sụp đổ” – còn chờ đợi, còn một chút hy vọng mong manh – đến chỗ “không sụp đổ” – nghĩa là đã hoàn toàn tuyệt vọng.
Nỗi buồn sầu đã dâng lên đến đỉnh điểm. Chữ “không” ở câu cuối “đắt” như kim cương và ẩn dụ của cả đoạn thơ thật tuyệt vời.
Cảm Xúc Dâng Tràn – Hồn Thơ Lai Láng
Cảm xúc tầng 1:
Theo tôi, VHC thành công trong việc trao tặng độc giả những cảm giác khoái trá ở tầng 1. Ngôn ngữ thơ của ông chắt lọc, trau chuốt, hình tượng đẹp một cách lộng lẫy, kiêu sa, câu thơ mạch lạc, trong sáng. Nói theo ngôn ngữ bóng đá, kỹ thuật cá nhân của các cầu thủ trong Say Đi Em điêu luyện, thuộc đẳng cấp cao, nhìn qua là thấy có cảm tình và nể phục.
Cảm xúc tầng 2:
Trong Say Đi Em thế trận chữ nghĩa được dàn trải hợp lý, tạo hiệu quả tối đa cho việc chuyển tải tứ thơ. Vần và nhịp điệu giúp dòng chảy của tứ thơ thông thoáng. Độc giả như được xem một trận bóng đá mà đội phe mình công thủ, lên xuống nhịp nhàng, đấu pháp toàn đội kín kẽ, hoàn hảo.
Cảm xúc tầng 3:
Là thứ cảm xúc cao cấp nhất trong thơ – nếu đến mức dâng tràn, ta có hồn thơ lai láng. Để có hồn thơ lai láng bài thơ cần mấy điều kiện sau đây:
1/ Tứ thơ không phân mảnh đứt đoạn mà phải được dàn trải sao cho ý này nối tiếp ý kia, không ngừng nghỉ.
2/ Thể thơ phải như con kênh thông thoáng để khi câu chữ từ tứ thơ tuôn xuống có thể thành dòng thơ. Trong Say Đi Em, chỉ mới bước vào đầu đoạn 2 là men rượu đã ngấm, cảm xúc quyện lấy tứ thơ và âm điệu để cùng chảy một dòng. Đến đoạn 3, với hiệu ứng đặc biệt của dòng âm điệu, dòng thơ chảy rất nhanh và rất mạnh.
3/ Thi sĩ phải nổi điên để cảm xúc sôi lên phủ mờ lý trí. Trường hợp Say Đi Em, bắt đầu đoạn 3 là lý trí đã trốn chạy khá xa, đến cuối đoạn thì lý trí đã biệt tăm, biệt tích, thi sĩ đã “Say không còn biết chi đời”. Hơn nữa, nội dung bài thơ lại thuộc loại “ngược dòng” nên “cơn điên” phải cực mạnh và “nhiệt độ sôi của cảm xúc” phải rất cao mới có thể phủ mờ lý trí để vuợt qua nỗi Sợ Xấu, Sợ Nhục với người đời cuả VHC.
4/ Phải kết hợp để khi cảm xúc lên đến đỉnh điểm (cao trào) thì cũng là lúc thi sĩ tuôn ra điểm cốt yếu của tứ thơ. Đó sẽ là tiếng lòng chân thật của ngài. Ở Say Đi Em là đoạn 3 và đoạn 4.
Kết Luận
Say Đi Em không những có đủ 4 điều kiện trên mà điều kiện nào cũng đạt đến mức hoàn hảo nên hồn thơ cực mạnh.
Hơn nữa, bài thơ lại kết thúc ở cao trào nên hồn thơ không những cực mạnh lại còn có sức ngân vang trong tâm hồn người đọc mặc dù bài thơ đã hết.
Tôi cho rằng cùng với thi phẩm Say Đi Em của mình, Vũ Hoàng Chương không những đã có thể bước vào Bến Bờ Thi Ca mà còn xứng đáng ngồi vào hàng ghế trang trọng nhất.
PHẠM ĐỨC NHÌ
NÉT ĐẸP CỦA BÀI THƠ “ĐỢI” QUA LĂNG KÍNH KỸ THUẬT
ĐỢI
Anh đứng trên cầu đợi em
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm
Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy
Nước chảy bên lòng, anh đợi em
Anh đứng trên cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy lại bên này
Đợi em. Em đến? Em không đến?
Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây!
Anh đứng trên cầu đợi em
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời em (1) quen thành lạ
Nước chảy... kìa em, anh đợi em.
(Vũ Quần Phương)
Đây không phải là một bài bình thơ mà chỉ là một số nhận xét về kỹ thuật thơ của thi sĩ. Mục đích là để tìm hiểu xem ông đã áp dụng (hay không áp dụng) những “phương tiện thẩm mỹ” nào khi sáng tác bài thơ và việc áp dụng (hay không áp dụng) những “phương tiện thẩm mỹ” ấy ảnh hưởng ra sao đến sự Hay Dở của bài thơ.
Với bài thơ Đợi tôi sẽ đưa ra 22 phương tiện thẩm mỹ để dựa vào đó “bàn” về kỹ thuật thơ của tác giả.
1/ Tựa Đề:
Đặt tựa đề bài thơ là Đợi rất hợp lý, đúng cốt tủy của toàn bài.
2/ Ngôn Ngữ, Hình Tượng:
Đẹp, chắt lọc, có nét cao sang.
3/ Câu:
Gọn, đúng văn phạm, diễn đạt ý một cách sâu sắc.
4/ Biện Pháp Tu Từ:
Không sử dụng biện pháp ẩn dụ, phúng dụ hay nói bóng gió; ở đây thi sĩ nói thẳng điều muốn nói.
5/ Tứ Thơ:
Tâm trạng, suy nghĩ khi đứng đợi người yêu trên cầu.
6/ Câu Thơ “Không Thuận”
Đoạn cuối có câu thơ rất hay:
“Đứng một ngày đất lạ thành quen”
Nhưng câu thơ kế tiếp:
“Đứng một đời em quen thành lạ”
thì lại “không thuận” với tứ thơ, “lôi” người đọc ra xa tâm điểm của tứ thơ.
Lý do: Đang yêu em, kiên nhẫn đứng đợi em mà “phang” vào câu “Đứng một đời em quen thành lạ” thì không “khéo”, không “tâm lý” tý nào. Dù thực tế khách quan của cuộc đời – trong nhiều trường hợp - có thể đúng như thế đi nữa câu thơ ấy cũng là “cung đàn lỗi nhịp” với đoạn thơ và cả với bài thơ.
7/ Chức Năng Truyền Thông
Tôi vẫn cho là chức năng truyền thông của bài thơ thành công.
Theo tôi, người đọc cũng có thể “bắt” được ý câu thơ:
“Đứng một đời em quen thành lạ”
không khó khăn lắm. mặc dù đó là "cung đàn lỗi nhịp".
8/ Kết Luận:
Không ấn tượng.
9/ Bố Cục, Thế Trận:
Câu thơ “không thuận” đã làm thế trận của bài thơ hơi xộc xệch.
10/ Thể Thơ:
Thơ Mới Trường Thiên, phân mảnh đứt đoạn
11/ Vần:
Đoạn đầu (em đêm em) và đoạn cuối (em quen em) gộp lại là 3 cặp vần. Đoạn giữa chỉ có một cặp vần gián cách (này đây). Với 12 câu thơ chia làm 3 đoạn phân cách riêng biệt thì 4 cặp vần cũng không có gì là quá ngọt. Hơn nữa, bài thơ lại ngắn nên không có hội chứng nhàm chán vần. Kỹ thuật sử dụng vần thành công.
12/ Nhịp Điệu:
Thoạt nhìn thì thấy “Đợi” có chút hơi mới lạ về hình thức. Câu thơ đầu của mỗi đoạn thay vì 7 chữ như những bài thơ thất ngôn trường thiên khác lại chỉ có 6 chữ. Nhưng sự mới lạ đó chỉ là đổi từ cái khuôn này sang cái khuôn khác.
Trong cái khuôn mới ba đoạn thơ vẫn có số câu và số chữ trong câu giống nhau (mỗi đoạn 4 câu với số chữ cùng là 6, 7, 7, 7). Chỉ nhờ bài thơ ngắn nên cảm giác tẻ nhạt không rõ nét lắm.
13/ Phong Thái Của Thi Sĩ Lúc Làm Thơ:
Tác giả phóng bút với tâm thế khá tỉnh táo, cho lý trí nắm quyền đạo diễn bài thơ. Tâm thế này sẽ ảnh hưởng đến việc nhen nhúm và phát triển hồn thơ, ngay cả trong trường hợp - về mặt kỹ thuật - đã tạo được dòng chảy cho thơ.
14/ Dòng Chảy Của Thơ:
Thể thơ phân mảnh, đứt đoạn nên bài thơ không có dòng chảy mà chỉ là 3 “vũng thơ” nằm 3 nơi.
15/ Dòng Tứ Thơ:
Tứ thơ đứt đoạn, chỉ là 3 mảnh tâm sự nằm riêng biệt.
16/ Dòng Âm Điệu:
Thơ có vần, nghe du dương nhưng không có dòng âm điệu.
17/ Dòng Nhịp Điệu:
Ba đọan thơ cách biệt nên cũng không có dòng nhịp điệu.
18/ Dòng Cảm Xúc:
Không có dòng cảm xúc (tôi muốn nói hồn thơ)
19/ Độ Dài Của Bài Thơ:
Viết theo thể thơ này (phân mảnh, đứt đoạn) thì dù có dài thêm nữa cũng không có dòng cảm xúc, không có “sóng sau dồn sóng trước” và không có hồn thơ.
20/ Cảm Xúc Tầng 1 (Đến từ câu chữ):
Mạnh
21/ Cảm Xúc Tầng 2 (Đến từ bố cục, thế trận):
Trung Bình
22/ Cảm Xúc Tầng 3 (Hồn thơ):
Hoàn toàn không có.
Nhận Xét Tổng Thể
Tôi chỉ đưa ra những nhận xét về mặt kỹ thuật. Việc thẩm định giá trị nghệ thuật của bài thơ ĐỢI xin dành cho độc giả.
CHÚ THÍCH
1/ Có vài bản viết là “đất quen thành lạ” nhưng theo chính lời tác giả Vũ Quần Phương thì “em quen thành lạ” mới đúng.
Đưới đây là một số bài viết liên quan đến ĐỢI
1/ Phạm Văn Chữ: Đợi – Huy Thục – Vũ Quần Phương trên trang Bài Ca Đi Cùng Năm Tháng (23/04/2012)
https://bcdcnt.net/tu-lieu/doi-huy-thuc-vu-quan-phuong-253.html
2/ Hoàng Dân: Đợi của Vũ Quần Phương Với Lời Bình Của Hoàng Dân (Hà Nội 16/10/ 1994 trên trang Vũ Nho Ninh Bình)
http://vunhonb.blogspot.com/2014/10/oi-cua-vu-quan-phuong-voi-loi-binh.html
3/ Nguyễn Thị Lan: Phía Sau Hai Câu Thơ “Đợi” Của Nhà Thơ Vũ Quần Phương trên trang Cựu Chiến Binh TPHCM 23 tháng 6/2021
4/ Bài Thơ “Đợi” - Đợi Đến Bao Giờ
Đây là cuộc thử nghiệm đưa việc phân tích thi pháp vào một bài bình thơ.
https://vanhaiphong.com/bai-tho-doi-cua-vu-quan-phuong/ D
Cách thẩm bình của anh luôn thú vị và hấp dẫn, vừa rất cổ điển vừa tự do phóng khoáng. Bình thơ như anh hiện không có. Người ta, nếu ở góc thi pháp mà bình thì nặng nề, nếu ở góc ấn tượng thì lan man. Anh đọc thơ ở cả hai góc ấy nhưng uyển chuyển và sắc nét. Anh chơi thơ với đôi mắt xanh say đắm và lạ.
Mong đọc nhiều hơn các bài của anh.
ĐẬU THỊ THƯƠNG: Giáo viên, nhà thơ ở Hà Tĩnh
Comments
Post a Comment